Monday, August 27, 2012


Peter Sands - Người hùng hay tội đồ?

Trong nhiều năm trời, Peter Sands (ảnh), CEO của ngân hàng toàn cầu Anh Standard Chartered (SCB), được ca tụng như một người hùng của ngành ngân hàng Anh khi giúp SCB đạt tăng trưởng lợi nhuận liên tiếp 10 năm trời. Sands cũng từng huênh hoang rằng ngân hàng của ông là hình mẫu vượt các cuộc khủng hoảng toàn cầu.
 SCB được đánh giá là một trong những ngân hàng thành công nhất nước Anh, và CEO của nó - ông Sands - luôn là nhân vật của công chúng. Sands là những người “to mồm” nhất ngành ngân hàng trong việc chỉ trích các vụ bê bối xảy ra trước đó trong ngành, đặc biệt vụ bê bối lãi suất LIBOR mới đây. SCB không dính vào bê bối LIBOR hay bất kỳ một bê bối lớn nào của ngành ngân hàng.

Thursday, August 23, 2012

Hối lộ in tiền polymer


Những vụ án kinh tế chấn động (Kỳ 4)

Hối lộ in tiền polymer
Tiền polymer là phát minh độc quyền của Australia. Để cổ súy việc sử dụng loại chất liệu in tiền mới mẻ này ra khắp thế giới, 2 công ty “con cháu” của Ngân hàng Trung ương Australia (RBA) là Securency International Pty Limited (Securency) và Note Printing Australia (NBA) đã chi hàng chục triệu USD cho các quan chức và nhà môi giới nước ngoài để đổi lại các hợp đồng in tiền.
Vụ án quốc tế
Cho đến nay, đã xuất hiện những cáo buộc đưa hối lộ “chạy hợp đồng” in tiền polymer ở các nước như Nigeria, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam. Bê bối hối lộ in tiền polymer thu hút sự chú ý của công luận thế giới sau khi cảnh sát Australia cho biết điều tra của họ đã phát hiện Securency đã chi hàng triệu USD cho 2 thương nhân người Anh là Berry và Harding, có quan hệ mật thiết với các nhà chính trị cao cấp ở Nigeria.
Theo sau điều tra của cảnh sát Australia, báo chí Nigeria cáo buộc cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nigeria (CBN) Chukwuma Soludo nằm trong số những quan chức tình nghi đã nhận 1 triệu USD tiền hối lộ của Securency qua Berry và Harding năm 2006.
Trước sức ép của công luận, tháng 10-2009, Quốc hội Nigeria tuyên bố bắt tay điều tra những cáo buộc này.
Bê bối hối lộ tiếp tục lan rộng ra các nước khác. Giữa năm 2010, Ủy ban Bài trừ tham nhũng Indonesia (KPK), công bố việc điều tra các quan chức Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) đã nhận ít nhất 1,3 triệu USD tiền hối lộ từ Securency vào năm 1999 để xúc tiến việc lưu hành tiền polymer ở nước này.
Việc đưa hối lộ tại Indonesia được thực hiện thông qua người môi giới Radius Christanto, một doanh nhân Indonesia. Theo đó, Radius đã hối lộ 1,3 triệu USD cho các quan chức BI để nhận được hợp đồng trị giá 50 triệu USD về việc in 500 triệu tờ 100.000 rupiah.
Tại Ấn Độ, một người môi giới tên Aditya Khanna bị cáo buộc đã đưa hối lộ thay mặt Securency để giành được hợp đồng in tiền polymer tại đó. Tháng 10-2010, Ủy ban Chống tham nhũng Malaysia cho biết đã bắt giam 3 người vì tình nghi có dính líu đến scandal hối lộ tiền polymer, trong đó có (cựu) Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Malaysia.
Trước đó, 2 người khác đã bị bắt tại Anh sau khi cảnh sát Australia, Anh và Tây Ban Nha thực hiện những cuộc điều tra nhắm vào hoạt động đưa hối lộ tại Securency (xem ĐTTC ra ngày 3-3-2011).
Liên quan Việt Nam
Trong số báo ngày 24-1-2011, tờ The Age ở Melbourne (Australia), dẫn lời “các nguồn hợp pháp” khẳng định Securency chi hàng chục ngàn USD cho việc theo học tại Đại học Durham (Anh) của một cựu quan chức cao cấp thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Các nguồn tin của The Age cho rằng số tiền trên được trích từ một “quỹ hoa hồng” khoảng 14,95 triệu USD (15 triệu AUD) được Securency trả cho một người môi giới tại Việt Nam để giúp họ giành được hợp đồng cung cấp nguyên liệu in tiền polymer với Ngân hàng Nhà nước. Tin tức này cũng được đăng tải trên tờ Financial Times của Anh ngày 26-1.
Một bị cáo vụ hối lộ in tiền polymer rời tòa án Melbourne ngày 1-7-2011. (Ảnh: AFP)

Tham nhũng đường sắt Trung Quốc


Những vụ án kinh tế chấn động (Kỳ 3)

Tham nhũng đường sắt Trung Quốc
Năm 2008, Trung Quốc tăng gấp đôi ngân sách xây dựng đường sắt, từ 26,2 tỷ USD năm 2007 lên 49,4 tỷ USD. Năm 2009, con số này lại nhảy vọt lên 88 tỷ USD. Nhờ nguồn ngân sách khổng lồ, ngành đường sắt Trung Quốc đạt được những thành tựu vượt bậc, trở thành nước có hệ thống đường sắt cao tốc dài nhất thế giới, tàu đạt kỷ lục thế giới với vận tốc 486km/giờ.
Những tai nạn kinh hoàng
Tuy nhiên, niềm tự hào của người Trung Quốc về ngành đường sắt không kéo dài được lâu. Sự phát triển quá nhanh đã khiến ngành đường sắt nước này gánh chịu những hệ quả nghiêm trọng. Ngày 28-4-2008, cả thế giới chấn động trước tin một vụ đụng tàu xảy ra giữa Vương Thôn và Chu Thôn, gần Truy Bác, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc làm thiệt mạng 72 người và bị thương 416 người.
Nguyên nhân ban đầu được cho do lái tàu đã chạy vượt xa giới hạn tốc độ của đoạn đường sắt. Đoạn này là tuyến tạm và giới hạn tốc độ 80km/giờ nhưng tàu T195 đã chạy với tốc độ 131km/giờ. Tuy nhiên, tờ Quang Minh Nhật báo (Guangming Daily) của Trung Quốc đặt vấn đề “lỗ hổng trong quản lý của Cục Đường sắt Tế Nam”, vì cũng một tuyến đường sắt này đã phát sinh tới 2 tai nạn gây chết người chỉ trong vòng 4 tháng.
Trước đó, ngày 23-1-2008, tuyến đường sắt này xảy ra một vụ tai nạn khiến 18 người chết và 9 người bị thương. Tờ Financial Times phiên bản tiếng Hoa lại cho rằng có thể việc thiếu ngân sách là một trong những nguyên nhân gây ra tai nạn. Ngày 26-5-2009, Quốc hội Trung Quốc công bố kết quả điều tra. Theo đó, 37 người bị phát hiện có trách nhiệm trong vụ tai nạn.
Phó Giám đốc Cục Đường sắt Tế Nam và 6 người khác bị truy tố trách nhiệm hình sự, 31 người còn lại bị kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính. Trong đó, Giám đốc và Bí thư Đảng ủy Cục Đường sắt Tế Nam là 2 ông Trần Công Hành và Củi Thiết Dân bị bãi chức.
3 năm sau, ngày 23-7-2011, một vụ tai nạn đường sắt kinh hoàng khác lại xảy ra khi 2 tàu cao tốc đâm vào nhau ở quận Lộc Thành, Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang. Nguyên nhân được xác định do tàu cao tốc D3115 bị sét đánh, mất điện phải dừng đột ngột trên đường ray Shuangyu và bị tàu D301 chạy hướng Bắc Kinh - Phúc Châu đâm vào phía sau.
Điều khiến người ta giận dữ là tại sao lái tàu D301 không được thông báo về việc tàu D3115 phải dừng đột ngột. Theo các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc, có 40 trường hợp tử vong và ít nhất 192 người phải nhập viện, trong đó 12 người bị thương nặng.
Vụ tai nạn đã có ảnh hưởng lớn đến chương trình đường sắt cao tốc của Trung Quốc. Ngày 10-8-2011, Chính phủ tuyên bố ngừng cấp phép tất cả các dự án đường sắt cao tốc đang chờ phê duyệt. Bộ Đường sắt hạ tốc độ tàu cao tốc xuống. Giá vé tàu cao tốc giảm 5%.
Tháng 11-2011, tờ Tin tức Bắc Kinh đưa tin một cuộc điều tra của chính phủ cho thấy tai nạn là hậu quả từ “sự quản lý yếu kém của ngành đường sắt địa phương”. Dựa trên điều tra này, ngày 28-12, Quốc hội Trung Quốc đưa ra danh sách kỷ luật 54 quan chức chịu trách nhiệm trong vụ tai nạn.
Tham nhũng nghiêm trọng
Những người chỉ trích tin rằng tình trạng tham nhũng, bòn rút ngân sách dự án và quản lý là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các vụ tai nạn kinh hoàng của ngành đường sắt Trung Quốc những năm gần đây. Tháng 2-2011, (cựu) Bộ trưởng Đường sắt Lưu Chí Quân đã bị sa thải vì cáo buộc tham nhũng.
Ông Lưu được xem là “cha đẻ” đường sắt cao tốc Trung Quốc, vì ông chính là người thúc đẩy sự phát triển bùng nổ về đường sắt cao tốc ở nước này. Chính vì những nỗ lực đó ông còn được gọi là “Lưu Đại Vượt qua”.
Theo tờ Người quan sát Kinh tế Trung Quốc (EO), Ủy ban Trung ương Đảng về Điều tra và Kỷ luật quyết định bãi chức của ông Lưu vì “những sai phạm kỷ luật nghiêm trọng” và có liên quan đến 2 cuộc điều tra khác với những cá nhân có liên đới với ngành đường sắt Trung Quốc.
Biếm họa về tham nhũng đường sắt Trung Quốc (Nguồn: Hoàn Cầu).

“Xuất khẩu” triệu phú

Có một “sản phẩm xuất khẩu” Trung Quốc dường như ngày càng phổ biến và không thể ngăn chặn ở thời điểm hiện nay: triệu phú. Tình trạng chảy máu triệu phú tại Trung Quốc đang ngày càng đáng báo động, khi những số liệu mới nhất cho thấy số triệu phú muốn “xuất khẩu” trong 6 tháng đầu năm 2012 tăng gấp 58,7 lần so với cách đây 6 năm.
Triệu phú Louie Huang, sống ở Thượng Hải, đã kiếm được rất nhiều tiền từ bất động sản. Ông hiện có một biệt thự 200 phòng ở đó và sở hữu nhiều bất động sản tại ít nhất 5 thành phố khác trên thế giới. Nhưng trong khi các hoạt động kinh doanh vẫn chủ yếu tập trung tại Trung Quốc, ông đã chi tiền đầu tư đáng kể để được cấp quyền cư ngụ tại Singapore.
Giải thích cho điều này, Huang nói có nhiều lý do, trong đó có thể mang cả gia đình sang Singapore sinh sống bất cứ khi nào. Tuy nhiên, Huang cũng thừa nhận với nhiều bạn bè giàu có của ông, việc cảm thấy bất an với tình hình trong nước là nguyên nhân khiến họ tìm kiếm cuộc sống bên ngoài Trung Quốc.
“Hầu hết bọn họ đều nghĩ rằng dù mình có quá nhiều tiền, nhưng có thể một ngày nào đó chính phủ thay đổi chính sách và lấy chúng lại” - Huang nói.
Louie Huang cho rằng quyền cư trú ở nước ngoài sẽ bảo đảm an toàn cho gia đình.

Những công ty “vô địch” tại Olympic London

Olympic London vừa kết thúc với những chiến thắng cả trong lĩnh vực thể thao lẫn kinh tế với người Anh. Cùng với đó, một số ít các công ty đã “cày xới” được khoảng 1 tỷ bảng nhờ hoạt động tài trợ chính thức Thế vận hội.
Những công ty thiên về tiêu dùng như McDonald's và Coca-Cola, nằm trong số 11 công ty toàn cầu thiết lập chương trình Đối tác Olympic (TOP) đã chi khoảng 61 triệu bảng trong 4 năm qua theo thỏa thuận tài trợ. Tại London 2012, còn có những công ty trong nước gia nhập hàng ngũ những nhà tài trợ với 11 công ty trên.
Các đối tác bậc 1 (T1) có Adidas, nhà cung cấp trang phục thể thao chính thức và BP, nhà cung cấp nhiên liệu cho 5.000 phương tiện giao thông chính thức của giải. Lần xuống, đối tác cấp 3 (T3) có Holiday Inn, nhà cung cấp dịch vụ khách sạn chính thức cho Olympic.
Nhận biết thương hiệu là một trong những cách cơ bản để đong đếm sự thành công của hoạt động tài trợ. Nghiên cứu của Công ty Tư vấn Havas Sports & Entertainment cho thấy về mặt này, Lloyds thành công nhất, với 30% người tiêu dùng nhận biết ngân hàng này là một nhà tài trợ chính thức.
“Điều này không chỉ vì họ mua quyền tài trợ, mà vì họ là công ty đầu tiên ký với Ủy ban Tổ chức Olympic và Paralympic London (LOCOG) và sau đó đầu tư để xúc tiến thông tin này theo những cách gần gũi với người tiêu dùng” - theo Alastair Macdonald, Giám đốc Tài trợ của Havas.
Nhìn chung, các nhà tài trợ Olympic London đều thắng.

Thursday, August 9, 2012


Trốn thuế 21.000 tỷ USD/năm

Theo phúc trình của Mạng lưới Tư pháp Thuế (TJN) công bố vào cuối tháng 7, có ít nhất 21.000 tỷ USD tài sản trốn thuế tư nhân được đầu tư vào các thiên đường né thuế trên khắp thế giới năm 2010. Để dễ hình dung, con số này bằng hơn 1/4 tổng GDP toàn cầu, bằng GDP của Hoa Kỳ và Nhật Bản cộng lại.
James Henry, tác giả phúc trình, nói: “Chúng tôi nghĩ con số này chỉ tương đương khoảng 90% các tài sản né thuế trong thực tế”. Có sự chênh lệch này do phúc trình chỉ mới tính đến tài sản tài chính (các khoản tiền gửi trong ngân hàng và đầu tư), chưa “sờ” đến các tài sản khác như nhà đất, du thuyền.
Để tính ra con số trên, TJN nghiên cứu các tài sản hải ngoại dưới dạng quản lý tiền gửi và tài sản tạm giữ của 50 ngân hàng cá nhân hàng đầu thế giới. “Chúng tôi xây dựng hình mẫu của 139 nước đang phát triển trong vòng 30 năm qua, những hình mẫu phức tạp nhất từ trước đến nay về việc theo dõi nguồn vốn vào ra và giá trị của các tài sản hải ngoại” - Henry nói.
Mỗi năm có ít nhất 21.000 tỷ USD tài sản trốn thuế được tuồn vào các thiên đường
né thuế toàn cầu.

Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 3)

Tiếp tay tội phạm
Gần đây, nhiều đại gia ngân hàng Phố Wall bị phanh phui đã tiếp tay cho những giao dịch rửa tiền và tài trợ cho giới buôn ma túy và khủng bố. Dù nhận thức đầy đủ đó là những hoạt động phi pháp, các ngân hàng vẫn sẵn sàng để điều đó xảy ra hòng tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ.
Sống sót bằng tiền ma túy
Trong cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu, những giao dịch tiền ma túy chính là nguồn thanh khoản duy nhất giúp một số ngân hàng sống sót, theo Antonio Maria Costa, cựu Giám đốc Cơ quan chống Ma túy và Tội phạm Liên hiệp quốc (UNODC).
Phát biểu từ văn phòng ở Vienna, Costa nói những bằng chứng về tiền bẩn được hấp thụ vào hệ thống tài chính đã làm ông chú ý lần đầu tiên bởi các cơ quan tình báo và tòa án vào cuối năm 2008. “Trong nhiều trường hợp, tiền ma túy là vốn đầu tư thanh khoản duy nhất.
Trong nửa cuối năm 2008, mất thanh khoản là vấn đề chính của hệ thống ngân hàng và vì vậy việc có được nguồn vốn giàu thanh khoản mang tính sống còn” - Costa nói. Ông tin rằng phần lớn khoản lợi nhuận 352 tỷ USD từ ma túy đã hòa nhập vào nền kinh tế thông qua con đường này.
Costa cho biết có một số bằng chứng UNODC thu thập được cho thấy tiền của các băng đảng tội phạm đã được dùng để cứu các ngân hàng khỏi sụp đổ khi hoạt động vay mượn bị cạn kiệt: “Các khoản vay liên ngân hàng được lấy từ tiền có nguồn gốc mua bán ma túy và các hoạt động phi pháp khác. Có những dấu hiệu cho thấy một số ngân hàng đã được cứu bằng cách đó”.
Costa thêm rằng dòng tiền trên nay đã là một phần của hệ thống chính thức và đã “được rửa hoàn hảo”. UNODC ước tính hoạt động mua bán ma túy của các băng nhóm tội phạm mang về khoảng 325 tỷ USD/năm. Costa tin rằng bọn tội phạm đã cố tìm cách đưa tiền bẩn vào hệ thống tài chính thông qua các nhà ngân hàng ở Anh, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.
Điển hình Wachovia
Ngày 10-4-2006, một chiếc phản lực DC-9 hạ cánh xuống thành phố cảng Ciudad del Carmen, trên vịnh Mexico. Các binh lính Mexico khám xét và phát hiện trong máy bay chứa 5,7 tấn cocaine, trị giá 100 triệu USD. Sau 22 tháng điều tra, Cơ quan Thi hành luật chống Ma túy Hoa Kỳ (USDEA) và một số cơ quan hữu trách khác phát hiện ra những kẻ buôn ma túy mua chiếc may bay bằng tiền đã rửa thông qua một trong những ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ lúc đó là Wachovia, nay là một phần của Wells Fargo.
Các nhà chức trách phát hiện hàng tỷ USD chuyển khoản, ngân phiếu xách tay và nộp tiền mặt từ Mexico vào các tài khoản ở Wachovia. Ngay lập tức, Wachovia bị điều tra. Điều đáng chú ý là việc rửa tiền diễn ra từ năm 2004, khi Hoa Kỳ và Mexico đang tích cực đẩy mạnh cuộc chiến chống ma túy. Wachovia phải nộp phạt 160 triệu USD. Ngân hàng này cũng bị cấm vận vì thất bại trong việc áp dụng những biện pháp hữu hiệu để chống việc chuyển 378,4 tỷ USD tiền ma túy vào các tài khoản từ hệ thống hối đoái ở Mexico.
Tổng số tiền phạt chưa tới 2% lợi nhuận 12,3 tỷ USD của ngân hàng này vào năm 2009. Wachovia về sau được Wells Fargo mua lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính. Tờ Observer đã cất công điều tra về vụ này. Theo đó, một người đàn ông tên Martin Woods đã gia nhập chi nhánh Wachovia ở London vào tháng 2-2005 với chức vụ lãnh đạo chống rửa tiền cấp cao.
Trước đó ông từng làm việc trong đội cảnh sát chống ma túy ở London. Theo tiết lộ của ông, từ giữa năm 2005, ông đã đánh động cấp trên của mình (phụ trách chống rửa tiền toàn cầu của Wachovia) về những giao dịch từ các nguồn tiền đáng ngờ, nhưng đã bị phớt lờ.
Tiếp tay khủng bố
Từ sau vụ khủng bố ngày 11-9-2001, Chính phủ Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tranh chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu. Là nước phát động, những tưởng các ngân hàng ở Phố Wall sẽ đi tiên phong trong công cuộc chống lại dòng tiền khủng bố.
Tuy nhiên, mới đây nhất, ngày 7-8 (giờ Việt Nam) các nhà chức trách New York đã cáo buộc ngân hàng Standard Chartered Bank (SCB) che giấu 250 tỷ USD giao dịch với các đối tác bị nghi ngờ có liên quan đến khủng bố và những hoạt động tội phạm khác trong gần 10 năm qua. Các nhà chức trách nói SCB có những giao dịch trá hình với Iran, nước đã bị Nhà Trắng cấm vận và đưa vào danh sách tài trợ khủng bố.
Biếm họa về găng-tơ ngân hàng.

Monday, August 6, 2012


Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 2)

 Lừa đảo quy mô lớn
Các ngân hàng Phố Wall không chỉ sao nhãng chức trách chính của ngành, mà còn tiếp tay cho lừa đảo, thậm chí chính họ thực hiện những vụ lừa đảo, mà đối tượng chính là “thượng đế” của mình.
Gian lận tín nhiệm
Từ lâu, việc xếp hạng của các công ty đánh giá tín dụng (CRA) đã là vấn đề đáng ngờ. Tháng 9-2009, tờ Wall Street Journal có bài viết cho rằng 3 đại gia xếp hạng tín dụng toàn cầu Moody’s, S&P và Fitch “bán linh hồn” của họ bằng cách xếp tín nhiệm cho các loại tài sản độc hại và những công ty sa sút cao hơn lẽ thường.
Theo giới quan sát, khách hàng của các CRA, mà đa số là ngân hàng, đã đưa hối lộ để tác động vào kết quả đánh giá của CRA. “Đây là những định chế tìm kiếm lợi nhuận.
Các nhà bảo hiểm sẽ trả thêm tiền để có được hạng tín nhiệm tốt. Một kiểu hối lộ không bị luật pháp kiểm soát, các CRA cũng không chịu trách nhiệm đối với xếp hạng vô trách nhiệm của họ” - GS. ngành tài chính Ed Kane nói.
Hãng tin tài chính Bloomberg gần đây có bài viết cho biết một nhóm nhà đầu tư gửi đơn kiện Ngân hàng Morgan Stanley đã tạo áp lực lên Standard & Poor’s và Moody’s Investors Service Inc. năm 2006 để 2 hãng này định mức tín dụng “có thể đầu tư” lên 23 tỷ USD chứng phiếu bảo đảm bằng tài sản thứ cấp nhiều rủi ro.
Trong đó có trường hợp của Cheyne. Khi đó, Morgan Stanley được một nhân viên của S&P cho biết một số loại chứng khoán của Cheyne sẽ bị đánh hạng BBB, thay vì hạng A như ngân hàng mong muốn. Morgan Stanley sau đó đã gửi email tạo áp lực với S&P và kết quả Cheyne được xếp hạng A.
Trong vụ này, Bloomberg cho biết Morgan Stanley kiếm được 30 triệu USD khi các chứng phiếu của Cheyne được phát hành.

Nhiều ngân hàng lớn liên quan đến việc thao túng lãi suất LIBOR.

Thursday, August 2, 2012


Visa ép khán giả Olympic

Cùng với thỏa thuận tài trợ với ban tổ chức Olympic, Visa buộc đóng cửa tất cả các loại máy ATM khác không liên kết với visa, khiến hàng nghìn chủ thẻ phi Visa phải chịu đói chịu khát và không thể mua được hàng lưu niệm khi đến xem các trận thi đấu.
Giới quan sát đang lo ngại trước tình trạng hỗn loạn thanh toán phát sinh tại Olympic London do thiếu hụt máy ATM nghiêm trọng. Ước tính có tới 11 triệu khán giả từ khắp nơi trên thế giới đổ về xem Olympic và Paralympic London, mỗi ngày sẽ có tới 800.000 người.
Tuy nhiên, hàng nghìn người sẽ không thể tiếp cận máy ATM và không thể thực hiện các hoạt động thanh toán do nhiều khu thi đấu không có máy ATM, trong khi chỉ dành riêng cho thẻ Visa. Theo tờ Daily Mail, toàn bộ các khu thi đấu Olympic và Paralympic năm nay chỉ có… 8 máy ATM!
Hàng nghìn khán giả phải xếp hàng nhiều giờ ở sân ExCel
để rút tiền mặt vì chỉ có duy nhất 1 máy ATM.

Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 1)

 Ngân hàng không cho vay
Cho đến nay, nhiều chuyên gia đồng ý rằng hoạt động đầu cơ và sự vô trách nhiệm của các nhà ngân hàng Phố Wall là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Không chỉ vậy, các ngân hàng lớn còn bị chỉ trích liên quan đến các hoạt động tội phạm như lừa đảo, rửa tiền và thậm chí tiếp tay cho mafia và khủng bố.
Chức năng chính của ngân hàng là cho vay để bơm tiền vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp sản xuất, người tiêu dùng mua hàng... Tuy nhiên, điều nghịch lý là đa số các ngân hàng lớn ở Phố Wall hiện nay bỏ chính theo phụ, không chú trọng hoạt động cho vay mà lao vào những hoạt động hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng nhiều rủi ro hơn.
10% và 77%
Theo tờ Washington Post, từ năm 1999 các ngân hàng lớn bắt đầu sao nhãng dần hoạt động truyền thống của ngành ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay. Trái lại, họ kiếm tiền chủ yếu bằng việc mua bán tài sản, chứng khoán, hàng hóa phái sinh và nhiều hoạt động rủi ro cao khác.
Từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ năm 2007-2008, các ngân hàng lớn lại càng cắt giảm hoạt động cho vay đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ, vì bản thân các ngân hàng này đã mắc kẹt hàng nghìn tỷ USD trong các khoản đầu tư và nợ phái sinh.
Đơn cử, Bank of America, ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ, chỉ có 83 tỷ USD huy động từ các tài khoản tiền gửi, so với từ 1.300-1.500 tỷ USD tổng tài sản. Nói cách khác, chưa tới 10% tổng tài sản của ngân hàng này được huy động theo chức năng truyền thống của ngành ngân hàng.
Theo hãng tin tài chính Bloomberg, dựa trên những nghiên cứu của hãng và số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng JPMorgan nhận khoảng 14 tỷ USD trợ cấp từ chính phủ mỗi năm. Số tiền này giúp đại gia ngân hàng này dư dả để chi lương thưởng một cách mạnh tay.
USA Today cho biết bình quân lương nhân viên ở các ngân hàng trong chương trình TARP (chương trình ứng cứu ngân hàng trị giá 700 tỷ USD của Hoa Kỳ) tăng 9,4%/năm, trong khi các ngân hàng ngoài chương trình chỉ tăng 1,8%/năm.
2 nhà kinh tế Kenichi Ueda của IMF và Beatrice Weder Di Mauro của Đại học University of Mainz ước tính vào năm 2009, chính phủ “bảo kê” khoảng 0,8% chi phí vay mượn của các ngân hàng lớn, con số này gia tăng so với 0,6% năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát.
Tổng giá trị hỗ trợ của Nhà Trắng đối với 18 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ như JPMorgan, Bank of America Corp., Citigroup Inc. là 76 tỷ USD/năm. Con số này tương đương với toàn bộ lợi nhuận của các ngân hàng này mỗi năm, và vượt qua chi tiêu cho giáo dục hàng năm của chính phủ.
Phần của JPMorgan trong “miếng bánh” này là 14 tỷ USD/năm. Hay nói cách khác, 77% doanh thu ròng của ngân hàng này trong 4 quý vừa qua đến từ tiền hỗ trợ của chính phủ. Điều này giải thích vì sao JPMorgan sẵn sàng thao túng cho các hoạt động đầu cơ kiểu như giao dịch đã gây lỗ gần 6 tỷ USD mới đây tại London, và có thể lỗ thêm 1,7 tỷ USD vào năm tới.
Giảm cho vay, tăng đầu cơ
Hỗ trợ từ chính phủ cũng khiến các ngân hàng sao nhãng hoạt động cho vay. Theo USA Today, trong 12 tháng tính đến ngày 30-9-2009, hoạt động cho vay cá nhân và doanh nghiệp của các ngân hàng trong chương trình TARP giảm 9,1%, so với mức giảm 6,2% của các ngân hàng ngoài chương trình.
Theo Bloomberg, tổng giá trị cho vay từ 4 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ gồm JPMorgan Chase & Co., Bank of America Corp., Citigroup Inc. và Wells Fargo & Co. giảm 4,9% xuống 3.040 tỷ USD trong quý I-2012.
Người biểu tình chống hoạt động đầu cơ của ngân hàng.

Tuesday, July 31, 2012

Anh trai tổng thống Hàn Quốc bị truy tố

Các nhà tư pháp Hàn Quốc cuối tuần qua đã truy tố ông Lee Sang-Deuk, anh trai đương kim Tổng thống Lee Myung-Bak, với cáo buộc nhận hối lộ.

Ông Lee Sang-Deuk
Các công tố viên cho rằng ông Lee sẽ phải ra trước vành móng ngựa vì đã nhận 600 triệu won (523.000USD) từ 2 ngân hàng tiết kiệm Solomon và Mirae đang gặp vấn đề và 157 triệu won từ một công ty dệt may. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc anh của Tổng thống đương nhiệm bị bắt và truy tố.
Ông Lee, từng là Nghị sĩ Quốc hội trong 6 nhiệm kỳ liên tiếp, đã bị bắt từ ngày 11-7 và bị giam cho đến nay, với cáo buộc nhận hối lộ để “gây ảnh hưởng” lên các quan chức thực hiện kiểm toán ở các ngân hàng tiết kiệm, từ đó giúp họ không bị trừng phạt.
“Tội của ông Lee đã được xác định và có lý do để lo ngại nghi phạm đang tìm cách hủy bằng chứng, dựa vào vị trí và ảnh hưởng chính trị của mình” - Thẩm phán Park Byong-Sam phát biểu với hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc.

Thursday, July 26, 2012


London mong đợi gì từ Olympic?

Ngày mai 27-7, olympic london sẽ khai mạc. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, các nhà hoạch định chính sách ở London vẫn sẵn sàng chi mạnh tay, nhằm biến Olympic London thành một thế vận hội tốn kém nhất từ trước đến nay. Liệu khoản “đầu tư” này sẽ sinh lời?
2,4 hay 24 tỷ bảng?
Lúc đầu, các nhà chức trách ước tính việc tổ chức Olympic chỉ tiêu tốn khoảng 2,37 tỷ bảng. Nhưng đến năm 2007, Ủy ban Tổ chức Olympic London (LOCOG) điều chỉnh chi phí cho việc xây dựng và tổ chức Thế vận hội London ước tính tiêu tốn khoảng 9,3 tỷ bảng (14,5 tỷ USD), tăng gần 4 lần.
Trong đó, việc xây dựng cơ sở hạ tầng chuẩn bị cho Olympic tiêu tốn 7 tỷ bảng, bao gồm các công trình như đường sá, cầu cống, sân vận động Olympic có sức chứa 80.000 chỗ ngồi, trung tâm truyền thông có mái che đủ chỗ cho 20.000 phóng viên tác nghiệp…
Tuy nhiên, theo ước tính của đài BBC, riêng dự án xây dựng Công viên Olympic đã tiêu tốn tới 9 tỷ bảng (13,9 tỷ USD), bao gồm các công trình như Trung tâm Thể thao dưới nước, Đấu trường Bóng rổ, sân vận động Olympic (486 triệu bảng), khu đấu hockey, pô lô nước... Trong khi đó, Công viên Olympic chưa phải là hạng mục duy nhất để chuẩn bị cho việc đăng cai Thế vận hội.
Olympic 2012 sẽ là gói kích cầu cho kinh tế Anh?

Marissa Mayer - Giỏi việc nước, đảm việc nhà?

Chỉ vài giờ sau khi Yahoo Inc. chọn Marissa Mayer (ảnh) làm tân CEO, những tranh cãi bắt đầu: Làm sao nữ kỹ sư 37 tuổi này có thể hoàn thành tốt một lúc 2 vai trò mới cùng cam go như nhau là làm một người mẹ tốt và vực dậy nhà khổng lồ internet đang đuối sức.

Lương Chấn Anh có lươn lẹo?

Đặc khu trưởng Hồng Công Lương Chấn Anh (ảnh) đang đối mặt với áp lực từ chức sau khi bị kiện lên tòa án tối cao vì tội nói láo với cử tri trong khi tranh cử.
Tờ Hong Kong Standard cho biết Tòa án Tối cao Hồng Công hôm 12-7 đã bắt đầu xét xử theo đơn kiện của 2 nhà làm luật ủng hộ dân chủ chống lại ông Lương Chấn Anh. Theo đó, ông Lương bị tố đã nói dối về những phần xây dựng phi pháp trong căn nhà xa hoa trị giá 64 triệu USD của ông ở quận Peak khi tranh cử chức đặc khu trưởng.
 Đơn kiện được gửi lên bởi Chủ tịch đảng Dân chủ (DP) Albert Ho Chun-yan (Albert Hồ), cũng là ứng viên trong đợt tranh cử, và Leung Kwok- hung của đảng Dân chủ Xã hội (LSD).
Luật sư Martin Lee Chu-ming nói thân chủ của ông, Albert Hồ, là một người bị thua trong đợt tranh cử đó, nên có quyền đòi phán xét lại kết quả bầu cử. Khi tranh cử ông Lương tuyên bố mạnh miệng rằng tuyệt đối không có những kiến trúc phi pháp trong nhà của mình, đồng thời loại các đối thủ khác bằng cách moi móc những phần xây dựng trái phép trong nhà của họ.
Ở Hồng Công đất chật người đông, những chuyện liên quan đến nhà ở rất nhạy cảm. Nổi bật trong số những người bị “ngã ngựa” vì có phần nhà xây trái phép là ông Đường Anh Niên, người được dự báo sẽ đắc cử trước khi bị phát hiện xây dựng “cung điện ngầm” không phép dưới ngôi nhà của mình ở Kowloon Tong.

Muốn giàu phải gan?

Ở những nước phát triển như Hoa Kỳ, báo cáo của cơ quan thuế là một trong những tài liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt đối với những người muốn tìm phương hướng để làm giàu. Lý do: trong đó công bố rất rõ ràng nguồn gốc tiền bạc của những người giàu có và cách họ kiếm ra lợi nhuận.
Theo danh sách danh sách 400 cá nhân được hoàn thuế thu nhập nhiều nhất hàng năm của Tổng cục Thuế Hoa Kỳ (IRS), không ai trở nên giàu có nếu chỉ đơn giản là làm công ăn lương. Theo bản báo cáo mới nhất của IRS, 400 cá nhân đóng thuế nhiều nhất năm 2009 đóng 77,4 triệu USD tiền thuế, thấp hơn nhiều so với 109,7 triệu USD năm 2008 và 138,8 triệu USD năm 2007.
Doanh thu bình quân của những người này năm 2009 là 202,4 triệu USD (thấp hơn so với bình quân 334,8 triệu USD năm 2007). Trong đó, 8,6% từ lương và tiền công, 6,6% từ lãi suất gửi ngân hàng, 13% từ tiền chia cổ tức, 19,9% từ việc hợp tác hay mở doanh nghiệp. Phần lớn nhất, 45,8%, đến từ việc đầu cơ vốn (như lướt sóng chứng khoán hay bất động sản, vàng…).
Bình quân, mỗi người trong 400 cá nhân này thu về 92,6 triệu USD từ đầu cơ vốn, tương đương 16% tổng doanh thu đầu cơ vốn của tất cả người đóng thuế.
Người ta không thể giàu có nếu chỉ làm công ăn lương và không “liều”?

9 ngân hàng lớn nộp “di chúc sống”

Tuần trước, 9 định chế tài chính lớn nhất Hoa Kỳ - những ngân hàng từng được gọi là “quá lớn để sụp đổ” - đã phải nộp lên Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi liên bang (FDIC) các bản “di chúc sống”, trong đó đề xuất phương án “tự xử” của ngân hàng khi lâm nguy mà không nhận cứu trợ từ chính phủ.
Những ngân hàng này gồm: Bank of America, Barclays, Citigroup, Credit Suisse, Deutsche Bank, Goldman Sachs, JPMorgan Chase, Morgan Stanley và UBS. Ngoài 9 ngân hàng này, hơn 100 ngân hàng khác cũng sẽ phải đệ trình “di chúc sống” trong năm 2013.
Và các ngân hàng này phải cập nhật bản “di chúc” này mỗi năm nếu tình hình hoạt động có những thay đổi đáng kể. Đây là một phần trong những quy định của Đạo luật Ngân hàng Dodd-Frank được đề suất theo sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Theo đó, các ngân hàng phải tự đề xuất kế hoạch chia tách và bán tài sản trong trường hợp đối diện nguy cơ đổ vỡ. Sự cải tổ này là một phần trong các nỗ lực nhằm đảm bảo các ngân hàng có đủ ngân sách để tự “chữa trị” mình trước những khoản thua lỗ khổng lồ và không tổn hại đến hệ thống tài chính toàn cầu nếu họ bị sụp đổ.
Các ngân hàng buộc phải liệt kê chi tiết các tài sản và các khoản nợ, mức độ tham gia vào các công ty khác, đồng thời nêu rõ có thể tự xử lý nhanh chóng quá trình phá sản một cách có trật tự.
JPMorgan Chase cũng nằm trong những ngân hàng phải nộp “di chúc sống”.

“Quỷ Đỏ” lên sàn

Câu lạc bộ (CLB) bóng đá Anh Manchester United (M.U) có kế hoạch huy động 100 triệu USD thông qua việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) tại Hoa Kỳ, đã nộp đơn IPO lên Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) vào chiều muộn ngày 3-7.
Cho đến nay, CLB được mệnh danh là “Quỷ Đỏ” này chưa tiết lộ sẽ chào bán bao nhiêu cổ phiếu, với mệnh giá bao nhiêu. Kể từ khi bị mua lại bởi nhà tỷ phú Hoa Kỳ Glazer năm 2005, CLB nổi tiếng nhất nước Anh này luôn ngập trong nợ nần.
Để giải quyết phần nào vấn đề ngân sách, Quỷ Đỏ từng có kế hoạch IPO ở Singapore hồi tháng 8-2011 với mục tiêu huy động khoảng 1 tỷ USD. Tuy nhiên, việc IPO ở châu Á đã phải hoãn lại khi các nhà bảo lãnh dẫn đầu là Morgan Stanley cảnh báo việc huy động ở nơi Graff Diamonds và Formula One từng rút lui là khá nhiều rủi ro.
Dù phát hành cổ phiếu ra công chúng, gia đình Glazer vẫn có kế sách để giữ quyền kiểm soát đối với M.U thông qua việc xây dựng cổ phiếu 2 cấp. Theo đó, cổ phiếu cấp B do thành viên gia đình Glazer giữ sẽ có giá trị cao hơn 10 lần so với cổ phiếu cấp A sẽ được bán đại trà.
Từ nhiều năm qua, các fan hâm mộ của Quỷ Đỏ chỉ trích kịch liệt rằng nhà Glazer điều hành yếu kém đã khiến CLB ngày càng ngập sâu trong nợ nần. Xung đột trong M.U lên cao nhất vào năm 2010, khi công nợ của CLB chạm mức 1 tỷ bảng (1,55 tỷ USD), khiến các fan hâm mộ tổ chức hàng loạt cuộc biểu tình phản đối ban điều hành.
Trong 2 năm qua, các khoản nợ đã được giảm bớt, và lợi nhuận đã quay lại với Quỷ Đỏ dù khá khiêm tốn. “Chúng tôi dự định sẽ dùng tất cả tiền thu ròng từ cuộc IPO để giảm bớt nợ nần”, cáo bạch IPO viết.
Hy vọng sau khi niêm yết, cổ phiếu của Quỷ Đỏ sẽ không bị đỏ.

Bob Diamond - Kim cương biến chất

 Diamond có nghĩa là kim cương. Khi về cầm quân cho ngân hàng Barclays (Anh) hồi năm 2011, Bob Diamond (ảnh) từng tuyên bố sẽ là một công dân tốt. Tuy nhiên, chỉ hơn 1 năm sau, ngân hàng do ông lãnh đạo bị vướng vào scandal thao túng lãi suất, bị các cơ quan chức năng ở cả 2 bên bờ Đại Tây Dương điều tra.
Dưới sức ép của London và Washington, ngày 27-6, Barclays phải nộp phạt 290 triệu bảng (451 triệu USD), trong đó bao gồm khoản phạt 59,5 triệu bảng cho Cơ quan Quản lý Tài chính Anh (FSA) - mức phạt cao nhất đối với một ngân hàng trong lịch sử của FSA.
Theo cáo buộc của FSA, Barclays và một số ngân hàng lớn đã kiếm lời bất chính bằng cách mời chào hàng nghìn doanh nghiệp vay, sau đó tác động để thao túng lãi suất cho vay liên ngân hàng London (LIBOR) và lãi suất cho vay liên ngân hàng châu Âu (EURIBOR) theo hướng tăng lên, đẩy các doanh nghiệp vay mượn vào chân tường.
LIBOR và EURIBOR là các lãi suất tham chiếu quan trọng trên thị trường liên ngân hàng, thị trường thế chấp và có khoảng 500.000 tỷ USD đầu tư, được xem là các chỉ số cơ bản của hoạt động tài chính ở châu Âu và thế giới.

CN vũ khí toàn cầu-ngành kinh doanh hốt bạc (P4)

Kiểm soát vũ khí
Chi tiêu quân sự có thể mang lại sự giàu có cho một nhóm lợi ích, nhưng phương hại đến hòa bình và an ninh quốc gia, khu vực và quốc tế. Đó là chưa kể thế giới sẽ mất đi một nguồn lực vô cùng lớn lẽ ra dành cho phát triển kinh tế và xã hội. Vì vậy, luôn có những nỗ lực kiểm soát việc mua bán, phổ biến vũ khí ở tầm quốc gia và quốc tế.
Chính sách súng
Việc kiểm soát vũ khí trong một nước được giới chuyên môn gọi là “chính sách súng”. Đó có thể là những chương trình kiểm soát việc mua bán, tàng trữ và phổ biến “vũ khí nóng” đối với các cá nhân và tổ chức. Nhìn chung, các nước đều hạn chế việc tàng trữ và sở hữu súng cá nhân, ngoại trừ những trường hợp cá biệt và phải có giấy phép.
Tuy nhiên, có những nước việc sở hữu súng được thừa nhận như “quyền tự vệ”, chẳng hạn tại Hoa Kỳ, nơi có tới 35% hộ gia đình sở hữu súng (tính đến năm 2006). Tuy nhiên, “chính sách súng” ở Hoa Kỳ đã bị chỉ trích nhiều lần, đặc biệt sau khi diễn ra những vụ thảm sát bằng súng ở trường học và mới đây nhất là vụ xả súng trong rạp chiếu phim khiến 14 người thiệt mạng.
Giới chống đối cho rằng việc dễ dàng sở hữu súng là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ xả súng. Tại châu Âu, năm 2008 các nước Liên minh châu Âu (EU) thông qua EU Directive 2008/51/EC, theo đó kiểm soát chặt chẽ hơn tình trạng sở hữu súng của những người có giấy phép như thợ săn, nhà sưu tầm…
Không phổ biến hạt nhân
Các hiệp ước kiểm soát vũ khí thường được xem như một cách để ngăn chặn những cuộc chạy đua vũ khí tốn kém vốn bị xem là lãng phí tài nguyên trên hành tinh và phương hại đến hòa bình tương lai.
Một số hiệp ước lại được dùng để ngăn chặn việc phổ biến một loại công nghệ quân sự nào đó (như công nghệ vũ khí hạt nhân hoặc tên lửa liên lục địa) để bảo đảm các nước tham gia sẽ không trở thành nạn nhân của những công nghệ giết người đó.
Trong khi kiểm soát vũ khí được nhiều nhà cổ súy hòa bình xem như một công cụ chính để chống lại chiến tranh, các bên tham gia lại đơn giản xem chúng như một cách để giới hạn chi phí ngất ngưởng của việc phát triển và chế tạo vũ khí, thậm chí giảm chi phí đi kèm với chiến tranh.
Biểu tình bên ngoài hội nghị bàn về Hiệp ước buôn bán vũ khí của Liên hiệp quốc.

CN vũ khí toàn cầu-ngành kinh doanh hốt bạc (P3)

Doanh thu khổng lồ
Gia tăng chi tiêu quân sự, chạy đua vũ khí tối tân đã mang đến doanh thu khổng lồ cho những tập đoàn buôn bán vũ khí, những kẻ được mệnh danh “lái buôn thần chết”.
Nhộn nhịp mua bán
Quốc gia xuất khẩu vũ khí nhiều nhất hành tinh không ai khác hơn là cường quốc quân sự Hoa Kỳ. Tính theo thang giá trị SIPRI Trend Indicator Value lấy thời giá 1990 làm chuẩn, năm 2008 Hoa Kỳ thu được 6,46 tỷ USD từ việc xuất khẩu vũ khí.
Doanh thu buôn bán vũ khí không ngừng tăng lên bất chấp xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính hay suy thoái kinh tế toàn cầu và đạt 10 tỷ USD vào năm ngoái.
Tính chung giai đoạn 2008-2011, kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hoa Kỳ lên tới 31,21 tỷ USD, chiếm 30% tổng xuất khẩu vũ khí trên thế giới. Đối thủ Nga về nhì với 25 tỷ USD, chiếm 24%. Cách khá xa, xếp ở vị trí thứ 3 là Đức với 8,56 tỷ USD, kế đó là Pháp 4,3 tỷ USD, Trung Quốc 4,3 tỷ USD, Anh 4,2 tỷ USD.
Nếu xét theo tốc độ tăng trưởng %, Trung Quốc nổi lên như một hiện tượng khi xuất khẩu nhảy vọt từ 593 triệu USD năm 2008 lên 1,01 tỷ USD năm 2009 và bắt đầu nhỉnh hơn Anh vào năm 2010 với 1,33 tỷ USD.
Về khách hàng nhập khẩu vũ khí giai đoạn năm 2008-2011, các quốc gia châu Á chi tiêu mạnh tay nhất. Ấn Độ đứng đầu với 10,4 tỷ USD, thứ nhì là Pakistan 6,3 tỷ USD, phần nào biểu hiện mối quan hệ nhiều gút mắc giữa 2 quốc gia láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân.
Các nước Đông Á gồm Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản xếp thứ 3, 5 và 20 với giá trị nhập khẩu lần lượt là 5,3 tỷ USD, 4,56 tỷ USD và 1,66 tỷ USD. Trong khối ASEAN, Singapore nhập khẩu vũ khí nhiều nhất, với kim ngạch nhập khẩu 4,7 tỷ USD, Malaysia đứng nhì với 2,5 tỷ USD và thứ 3 là Việt Nam với 1,38 tỷ USD.
Hoa Kỳ tuy là nước xuất khẩu số 1 nhưng đồng thời họ cũng nhập khẩu không ít, xếp thứ 8 với 3,65 tỷ USD.
Điểm mặt các “đại gia”
Các tập đoàn quốc phòng của Hoa Kỳ chiếm ưu thế trên thị trường. Trong 3 năm 2009-2011, Hoa Kỳ đã gia tăng bán vũ khí sang các nước như Australia gần 3 tỷ USD, Hàn Quốc 2,8 tỷ USD, Singapore 2,15 tỷ USD, Pakistan 1,8 tỷ USD, Các tiểu vương quốc A rập thống nhất 1,5 tỷ USD, Iraq 1,2 tỷ USD, Hy Lạp 1,09 tỷ USD, Afghanistan 1,06 tỷ USD.
Chạy đua vũ khí tấn công - phòng thủ, vòng lẩn quẩn
mang lại tiền bạc cho các “lái buôn thần chết”.

Công nghiệp vũ khí toàn cầu-Kinh doanh hốt bạc (P2)

Chạy đua công nghệ
Trước tiềm năng và nguồn lợi to lớn của ngành công nghiệp vũ khí, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ và tranh giành quyền lợi quốc gia, các công ty, chính phủ đua nhau tung ra những loại vũ khí tối tân nhất.
Cuộc đua trên không
Trong các cuộc chiến tranh hiện đại, chiến đấu cơ luôn là lực lượng mang tính quyết định. Vì vậy, đây là một phân khúc luôn mang lại những hợp đồng béo bở cho các nhà sản xuất vũ khí, đặc biệt với những loại chiến đấu cơ hiện đại.
Theo xếp hạng của đa số các tổ chức nghiên cứu vũ trang, dòng chiến đấu cơ hiện đại nhất cho đến nay là những chiếc F-22 do Công ty Lockheed Martin (Hoa Kỳ) chế tạo. Đây cũng là dòng chiến đấu cơ đắt nhất hiện nay.
Theo tính toán của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra năm 2006, giá trị mỗi chiếc F-22 khoảng 361 triệu USD nếu tính cả chi phí phát triển. Lockheed Martin là nhà thầu chính và chịu trách nhiệm chính về khung, các hệ thống vũ khí và lắp ráp hoàn thành chiếc F-22. Boeing cung cấp cánh, khung đuôi và các hệ thống điện tử tích hợp.
Tính đến năm 2006, Lockheed Martin bán được tổng cộng 183 chiếc F-22 cho Lầu Năm góc. Đến tháng 7-2007, công ty này nhận được đơn đặt hàng thêm 60 chiếc trị giá 7,3 tỷ USD. Cho đến nay, F-22 vẫn bị cấm bán ra nước ngoài. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có phiên bản “phổ thông” của F-22 là F-35, tích hợp đa số các ưu điểm của F-22 nhưng có giá thành rẻ hơn và được bán ra nước ngoài.
Nhằm bắt kịp công nghệ không quân của Hoa Kỳ, Nga và Ấn Độ đã hợp tác để phát triển chiếc Sukhoi PAK FA T-50, loại chiến đấu cơ tích hợp kỹ thuật từ cả Su-47 và MiG 1.44, dự kiến đưa vào sử dụng năm 2015. Có một số xếp hạng để T-50 ở vị trí chiến đấu cơ hiện đại nhất, điều này cho thấy sự kỳ vọng đối với loại chiến đấu cơ này. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có F-22 mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện để xếp vào thế hệ chiến đấu cơ thứ 5.
Nga cũng rất ít khi so sánh T-50 với F-35 mà chỉ cạnh tranh với F-22, nhưng giới quan sát tin rằng F-35 mới là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của T-50, vì cả 2 loại chiến đấu cơ này đều được phép xuất khẩu, Nga hy vọng T-50 sẽ chiếm 1/33 thị trường chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.
Tuy nhiên, so với F-35, T-50 vẫn thua nhiều mục: T-50 cần đường băng 300m để cất cánh, nhưng F-35 có thể cất cánh gần như thẳng đứng; khả năng tàng hình của T-50 không được hoàn hảo như F-35; T-50 kém hơn F-35 trong các tình huống giao tranh với mặt đất, dù trội hơn một ít trong không đối không; T-50 có tốc độ tối đa cao hơn F-35, nhưng bị hạn chế lớn trong việc khai hỏa tên lửa và bom thông minh khi đang bay với vận tốc qua ngưỡng âm thanh; hiện T-50 mới chỉ bắt đầu giai đoạn thử nghiệm thứ 2, trong khi Hoa Kỳ đã có một trường đào tạo phi công cho cả 3 phiên bản của F-35...
Tàu sân bay
Hiện nay, tàu sân bay là khao khát của nhiều nước trong bối cảnh những tranh chấp về lãnh hải ngày một gay gắt hơn. Trong lĩnh vực tàu sân bay hiện đại, dù nhiều nước cũng đang chạy đua sản xuất, nhưng Hoa Kỳ là nước vượt trội nhất, với 11 tàu sân bay đang hoạt động, hơn tất cả các nước khác cộng lại.

Công nghiệp vũ khí toàn cầu-Ngành kinh doanh hốt bạc

Kỳ 1: Gặp thời tăng tốc
Người ta ước tính hàng năm hơn 1.500 tỷ USD được chi tiêu cho các chi phí quân sự trên toàn thế giới, chiếm 2,7% GDP toàn cầu. Công nghiệp vũ khí từ nhiều năm nay luôn là ngành kinh doanh hốt bạc.
Bất chấp các cuộc khủng hoảng về tài chính, kinh tế, nợ công, suy thoái...,… chi tiêu quân sự vẫn gia tăng liên tục với mức tăng bình quân hàng năm 4,5% trong thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ mới.
Chi tiêu 1.740 tỷ USD
Các số liệu mới nhất cho biết ngành công nghiệp vũ khí toàn cầu gia tăng liên tục trong giai đoạn 1998-2010. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), tổng chi tiêu quân sự thế giới trong năm 2011 tăng tiếp 0,3%, đạt tới 1.740 tỷ USD.
Năm 2011 cũng ghi nhận sự thay đổi trong các quốc gia chi tiêu quân sự hàng đầu là Brazil, Pháp, Đức, Ấn Độ, Anh và Hoa Kỳ, đã cắt giảm ngân sách quân sự như là một phần của nỗ lực giảm thâm hụt.
Kinh doanh vũ khí vẫn phát đạt bất chấp khủng hoảng kinh tế.

Giáo dục-Nguồn lực quốc gia (P2): Những hình mẫu

Giáo dục được xem là một trong những nguồn lực quan trọng giúp Hàn Quốc vươn lên từ một nước nghèo đói sau chiến tranh cách nay hơn 50 năm, thành một trong những nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới (nằm trong nhóm G20) hiện nay. Giáo dục cũng được Qatar, một nước giàu có với trữ lượng dầu mỏ dồi dào, chọn làm nguồn lực phát triển đất nước thời hậu dầu mỏ...
 Hàn Quốc - Thịnh vượng nhờ giáo dục
Theo phúc trình của OECD, vào những năm 50 của thế kỷ trước, Hàn Quốc có mức sống chỉ ngang ngửa với Afghanistan. Tuy nhiên, hiện nước này là một trong những nền kinh tế mới nổi hàng đầu và có một trong những hệ thống giáo dục hiệu quả nhất thế giới.
Dù chi tiêu chỉ gần bằng 1/2 so với Hoa Kỳ ở bậc tiểu học và thấp hơn mức trung bình của thế giới, Hàn Quốc lại đạt được những kết quả cao trong giáo dục. Chính điều này đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu quốc tế.
Một góc Education City của Qatar.

Giáo dục-Nguồn lực quốc gia (Kỳ 1): Giáo dục và kinh tế

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Từ xưa cha ông ta đã xem giáo dục như một nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Trên thế giới, giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một nước. Vì thế, các nhà hoạch định chính sách tại nhiều nơi trên thế giới đã mạnh tay chi cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực, như một cách bù đắp cho nguồn tài nguyên thiên nhiên rồi sẽ cạn kiệt.
Có một quan niệm được phổ biến khá rộng rãi rằng một nước có dân trí cao hơn sẽ hấp dẫn nhiều doanh nghiệp trả lương cao hơn, từ đó giúp gia tăng sản lượng của nền kinh tế. Tuy nhiên, định lượng rạch ròi vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế là công việc vô cùng phức tạp.
Năng suất lao động
Năng suất lao động bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả giáo dục và trình độ kỹ năng của lực lượng lao động. Giáo dục và kỹ năng là quan trọng vì chúng gia tăng khả năng thực hiện một công việc hoặc dùng các công nghệ sản xuất của người lao động.
Những công nhân có trình độ giáo dục cao hơn thường tốt hơn trong việc thích ứng với một nhiệm vụ mới hay sự thay đổi trong công việc. Hơn nữa, giáo dục giúp người ta gia tăng khả năng giao tiếp và thấu hiểu người khác, là tiền đề quan trọng giúp họ làm việc theo nhóm hiệu quả hơn.
Và không nghi ngờ gì, năng suất lao động cao sẽ khiến kinh tế đất nước phát triển nhanh hơn, thu hút các nhà đầu tư hơn so với những nước có năng suất lao động kém hơn.
Nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của người Hoa Kỳ gia tăng nhanh chóng sau thế chiến 2, điều này lý giải cho sự tăng trưởng kinh tế thần tốc của họ. Cụ thể, năng suất bình quân mỗi giờ vào năm 1994 cao gấp 3 lần so với năm 1947.
Dù tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Hoa Kỳ hiện không nhanh như trước đây, nhưng nền kinh tế số một hành tinh vẫn là nơi có năng suất lao động cao nhất thế giới, theo nghiên cứu của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ.
Nghiên cứu của Bộ Lao động Hoa Kỳ (năm 1993) cho thấy có một sự tương quan khá rõ rệt giữa đầu tư cho giáo dục và năng suất lao động. Cụ thể, nhà nghiên cứu Denison (1992) ước tính giáo dục đóng góp khoảng 20% cho tăng trưởng thu nhập bình quân ở Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1948-1973, một nghiên cứu khác cho thấy giáo dục đóng góp 17% cho tăng trưởng kinh tế từ năm 1973-1984.
Nghiên cứu của Kim và Lau (1992) tại các nước khác cũng cho kết luận tương tự. Trong giai đoạn 1957-1985, giáo dục đóng góp từ 11-27% tăng trưởng kinh tế tại 5 nước công nghiệp hàng đầu. Nước thấp nhất (Hoa Kỳ, Nhật Bản) là 11%, trong khi nước cao nhất là CHLB Đức (27%). Các nghiên cứu cho thấy một điểm chung là tất cả những nước có tỷ lệ dân số hoàn thành bậc trung học cao hơn sẽ có năng suất lao động cao hơn.
Chi phí và lợi ích
Những nước có số dân theo học và hoàn tất các chương trình chính quy thường chứng kiến tăng trưởng kinh tế nhanh hơn so với các nước có tỷ lệ dân số đi học ít. Theo UNESCO và Chương trình Phát triển Nhân lực Liên hiệp quốc, tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi (tỷ lệ nhập học) tại các nước phát triển luôn cao hơn so với các nước đang phát triển.
Theo nghiên cứu của Global Partnership, bình quân cứ thêm 1 năm đi học ở trường, người lao động sẽ có thu nhập cao hơn 10% so với người khác. Một nông dân sẽ có sản lượng cao hơn 9% nếu anh ta đi học ít nhất 4 năm tiểu học.
Ấn Độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ lợi thế nguồn nhân lực trình độ công nghệ cao.

Nhật Bản-Thập niên mất mát (P2): Cần chống đúng chỗ

Sau hàng trăm nghiên cứu, các nhà phân tích kết luận rằng chính những chính sách sai lầm của Nhật Bản đã làm trầm trọng hơn các cuộc suy thoái và tác động của thập niên mất mát.
Cho vay chọn lọc
Một trong những sai lầm cơ bản được cho bắt nguồn từ cơ chế quản lý hệ thống tài chính lỏng lẻo, tạo ra một môi trường an toàn giả tạo. Trước khi rơi vào thập niên mất mát, Nhật Bản áp dụng cơ chế Basel I để quản lý hệ thống tài chính trong nước.
Các quy định về vốn của cơ chế này chủ yếu tập trung về lượng chứ không chú ý đến chất (độ rủi ro) của các khoản cho vay. Nói cách khác, một khoản vay cho một doanh nghiệp khỏe mạnh cũng đòi hỏi bỏ ra lượng vốn dự phòng tương đương với khoản vay đối với doanh nghiệp nhiều rủi ro.
Điều này tạo ra một môi trường an toàn giả tạo làm che mắt cả nhà đầu tư và nhà cho vay. Các ngân hàng đáp ứng được những yêu cầu của luật định, dù không bao giờ phân biệt rạch ròi loại nợ họ nắm giữ.
Không có chuẩn mực để đo những giá trị minh bạch và rủi ro, Basel I tỏ ra kém hiệu quả trong việc ngăn chặn những nguy cơ hệ thống.
Đầu năm 1992, nhận ra nền kinh tế sẽ không sớm tăng trưởng trở lại, Chính phủ Nhật Bản nhanh chóng thông qua gói kích thích kinh tế chống suy thoái lần đầu tiên. Chính phủ gia tăng chi tiêu công và cho vay trong vài năm tiếp theo để chống lưng cho những công ty tài chính đang thất bại.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cố chữa sự đau đớn của nền kinh tế bằng cách cho vay một lượng lớn với doanh nghiệp. Nhưng những nỗ lực tái cấp vốn ra thị trường lại phớt lờ những vấn đề về quản lý trong các công ty đang chết dần.
Đó là một sai lầm tốn kém. Vận động từ các nhóm lợi ích ở trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế đã dẫn đến việc cho vay vô tội vạ và tiền của chính phủ đổ vào những doanh nghiệp thây ma.
Chính sách thuế dài hạn
Ở những giai đoạn khác nhau, Nhật Bản cố vượt qua tình trạng hỗn loạn kinh tế bằng cả 2 cách tăng và giảm thuế. Có 2 đợt giảm thuế chính trong thập niên mất mát: chương trình giảm 5.800 tỷ yen (69 tỷ USD) thuế thu nhập năm 1994, kéo dài trong 1 năm; chương trình giảm 4.000 tỷ yen (46 tỷ USD) thuế thu nhập năm 1998, kéo dài 2 năm. Vấn đề là các chương trình giảm thuế này không kéo dài, vì vậy không gia tăng tổng tiêu thụ dài hạn.
Giảm phát năm 1995 khiến thu nhập ngân sách giảm. Trong một nỗ lực kìm chế nợ công gia tăng, thuế tiêu thụ được nâng từ 3% lên 5% vào năm 1997, khiến nền kinh tế đình trệ trở lại.
Từ trường hợp Nhật Bản, giới chuyên môn phát hiện rằng giảm thuế tạm thời kết hợp tăng chi tiêu không kích thích tăng trưởng kinh tế. Việc tăng thu ngân sách thông qua tăng thuế cũng không đạt hiệu quả. Chỉ có giảm thuế dài hạn mới cho phép các công ty giữ được nhiều lợi nhuận hơn, từ đó đầu tư nhiều hơn và mở rộng doanh nghiệp, thuê thêm nhân công, trả cổ tức và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Giảm thuế thu nhập cá nhân giúp người ta kiểm soát tốt hơn thu nhập, có tiền trả bớt nợ, gửi tiết kiệm, đầu tư và tăng tiêu dùng. Những chính sách thuế đó mới là cách nhanh nhất để chống lại một cuộc suy thoái.
Cân nhắc đầu tư công
Trong nỗ lực kích thích tăng trưởng, Nhật Bản khởi động một chương trình đầu tư công khổng lồ, trị giá hàng nghìn tỷ yen. Họ xây đường sá, cầu cống, sân bay với mục đích tạo công ăn việc làm và thúc đẩy kinh tế. Nhưng nỗ lực này cũng không mang lại kết quả.
Trong những năm 1990, Nhật Bản thông qua 10 gói kích thích tài chính, trọng tâm là các công trình công cộng, với trị giá hơn 120.000 tỷ yen (1.400 tỷ USD). Khi gói xây dựng này thất bại trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ lại thử một gói khác.
Nhưng các gói này đều không thành công, ngược lại chúng khiến xứ Phù Tang ngập trong núi nợ và điều này cản trở hồi phục kinh tế hàng năm trời. Tính luôn các khoản vay ngoài ngân sách, Nhật Bản nợ ước tính hơn 200% GDP vào năm 2001.
Những quyết sách đối phó sai lầm có thể khiến kinh tế tổn hại trầm trọng hơn.

Nhật Bản-Thập niên mất mát (kỳ 1): Đi tìm nguyên nhân

“Thập niên mất mát” (lost decade) là thời kỳ đình trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt những năm 90 của thế kỷ trước. Trong giai đoạn này tình hình của Nhật Bản có những nét rất giống với nước ta hiện nay: Thị trường bất động sản sau thời gian dài bùng nổ rơi vào trạng thái ảm đạm, giá nhà lao dốc; lãi suất liên tục giảm nhưng kinh tế vẫn đình trệ do ngân hàng ngại cho vay vì lo nợ xấu...
Giới phân tích tin rằng nguyên nhân trực tiếp đẩy Nhật Bản vào thập niên mất mát là sự hình thành và đổ vỡ bong bóng bất động sản, kéo theo diễn biến tương tự trên các thị trường chứng khoán, tín dụng... Nhưng gốc rễ của vấn đề vẫn là những sai lầm về chính sách.
Bong bóng tài sản
Bong bóng tài sản Nhật Bản hình thành sau thời gian dài nở rộ kinh tế hậu chiến tranh và bắt đầu tăng tốc vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, một phần vì những chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ).
Với việc tiếp cận tín dụng dễ dàng, các doanh nghiệp nhanh chóng biến nền kinh tế đất nước chuyển sang đặt nền tảng trên công nghệ, đặc biệt trong ngành điện tử tiêu dùng, viễn thông và tài chính. Nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ mới và tiên tiến hơn, cộng với mức sống gia tăng, đã nuôi dưỡng “cơn điên đầu tư tài sản” được biết đến với tên “cơn sốt Heisei”, theo tên của vị Nhật Hoàng lên ngôi năm 1989.
Giá trị của đồng yen tăng mạnh trong thời kỳ này nhờ Tokyo vươn lên thành một trung tâm tài chính quốc tế, cộng với tác động từ Thỏa thuận Plaza 1985 - một thỏa thuận điều chỉnh tỷ giá USD giảm so với yen. Thị trường chứng khoán Nhật Bản tăng đột biến trong thời gian này, với chỉ số Nikkei 225 tăng hơn 300% từ năm 1985 đến 1989.
TTCK Nhật Bản lao dốc từ 38.975 điểm xuống 7.603 điểm trong thập niên mất mát.

Monday, June 11, 2012

Cổ phiếu giảm, trảm CEO

Cổ phiếu giảm, trảm CEO

Sau hơn 1 thập niên dẫn dắt tập đoàn bảo hiểm lớn nhất Italia Assicurazioni Generali SpA, ông Giovanni Perissinotto (ảnh) bất ngờ bị truất phế khỏi cương vị CEO dưới áp lực của các cổ đông lớn, sau khi cổ phiếu của hãng này liên tục rớt giá xuống mức thấp nhất 26 năm.

“Phát xít” kinh tế

Bảo hộ mậu dịch (P.2): “Phát xít” kinh tế



Trong bối cảnh nhiều nước gặp khó khăn trong quá trình phục hồi kinh tế sau khủng hoảng, một số nhà chuyên môn tin rằng bảo hộ mậu dịch là một biện pháp “tự vệ” cần thiết của các nước. Quan điểm này có thể làm mát lòng các nhà lãnh đạo ở một số quốc gia, nhưng lại làm dấy lên nhiều quan ngại.
Bảo hộ là tiến bộ?
Hồi tháng 4, nhóm áp lực cánh tả Compass ở Anh đã gây tranh cãi khi xuất bản phúc trình cho rằng chủ nghĩa toàn cầu hóa là nguyên nhân dẫn tới những bất ổn kinh tế và xã hội hiện nay.
“Đã đến lúc phải biết rằng thúc đẩy thị trường mở đã là cách làm của thế kỷ trước, và ngày càng nguy hiểm”, tác giả phúc trình Colin Hines viết. Ông dẫn chứng các ứng viên tổng thống Pháp vừa qua đều được cử tri ủng hộ khi tranh cử bằng những chính sách gia tăng bảo hộ.
Những nước như Argentina, Brazil, Costa Rica từ đầu năm đến nay đưa ra nhiều biện pháp bảo hộ để bảo vệ nền kinh tế trong nước. “Đứng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, đây là lúc cần bàn luận nghiêm túc về điều tôi gọi là “chủ nghĩa bảo hộ tiến bộ” (progressive protectionism)”, Hines viết.
Theo đó, chủ nghĩa bảo hộ tiến bộ được định nghĩa là khuyến khích và cho phép các nước xây dựng lại và tái định hình nền kinh tế của họ bằng cách hạn chế những hàng hóa nhập khẩu, cũng như những nguồn vốn họ chọn đổ vào hoặc chuyển ra khỏi đất nước.
Hines tin rằng điều này sẽ giúp các nước không còn phụ thuộc vào xuất khẩu, cho phép các quỹ và doanh nghiệp trong nước gặp nhau và đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận xã hội.
Nhờ mở cửa mậu dịch Trung Quốc đã nhanh 
chóng vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới

Bảo hộ mậu dịch (kỳ 1)

Bảo hộ mậu dịch (kỳ 1): Cá mè một lứa



Toàn cầu hóa là một xu hướng tất yếu của thế giới, nhờ đó các nước phân bổ lại hợp lý từ tài nguyên, hàng hóa, tiền tệ đến con người và khoa học, kỹ thuật. Đi cùng xu hướng này, nhiều tổ chức/định chế và hiệp định liên tục ra đời để cổ vũ tự do hóa thương mại như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các vòng đàm phán Doha, các FTA... Tuy nhiên, theo sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày một leo thang.
Hầu hết các nhà chính trị và lãnh đạo trên thế giới đều hô hào cổ súy cho tự do mậu dịch. Tuy nhiên, cũng chính họ - theo phúc trình mới đây của WTO - lại không ngần ngại tung ra các biện pháp bảo hộ để bảo vệ các công ty trong nước trước sức ép cạnh tranh từ nước ngoài.
Xu hướng đáng ngại
Theo phúc trình công bố hôm 31-5 của WTO, xu hướng bảo hộ thương mại ở 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) không hề giảm sút trong 7 tháng qua. Phúc trình cho biết từ giữa tháng 10-2011 đến nay, hòng nhanh chóng phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính, các nước G20 đã tung ra 124 biện pháp bảo hộ mậu dịch mới như tự vệ thương mại và tăng thuế quan, tác động đến 1,1% lượng hàng hóa nhập khẩu của G20, tương đương 0,9% lượng hàng hóa nhập khẩu của thế giới.
Trong khi đó, báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết từ tháng 4-2010 đến tháng 9-2011, các biện pháp bảo hộ mậu dịch khiến kim ngạch xuất khẩu trên thế giới giảm từ 5-8% và kim ngạch mậu dịch toàn cầu giảm khoảng 0,2% (tương đương 30-35 tỷ USD) mỗi năm.
EU và các nền kinh tế trong G20 bị chỉ trích không thúc đẩy tự do thương mại đúng cam kết.

Thursday, May 31, 2012

Ngân hàng Trung Quốc tiến sang Hoa Kỳ

“Việc nhấn sâu vào lĩnh vực tài chính sẽ cho phép Trung Quốc tác động tới mọi tiến trình ở Hoa Kỳ một cách đáng kể” - một nhà phân tích của Nga đã nhận định như vậy sau khi Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) lần đầu tiên “gật đầu” cho một ngân hàng Trung Quốc mua lại cổ phần đa số của một ngân hàng Hoa Kỳ.
Ngày 9-5, FED tuyên bố thông qua việc Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC) và 2 đối tác mua lại 80% cổ phần Bank of East Asia U.S.A với giá 140 triệu USD. ICBC là ngân hàng lớn nhất Trung Quốc với tổng giá trị tài sản lên tới 2.500 tỷ USD, trong đó Chính phủ Trung Quốc nắm giữ 70,7%.
Vì vậy, đây cũng được xem là lần đầu tiên Hoa Kỳ mở cửa cho một cuộc thôn tính ngân hàng trong nước trước một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc. FED cho biết việc thôn tính sẽ diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 15-5 đến 9-8. Ngay lập tức, giới quan sát nhìn nhận vụ việc như một sự nhượng bộ của Hoa Kỳ trước sức mạnh Trung Quốc.

ICBC là một ngân hàng hàng đầu Trung Quốc
trong việc thâu tóm các định chế tài chính nước ngoài.


Facebook gặp nạn

Sự hỗn loạn theo sau cuộc IPO của Facebook ngày càng gia tăng, sau khi các cổ đông và nhà đầu tư khởi kiện công ty mạng xã hội này và các nhà ngân hàng đã cố tình ém nhẹm thông tin khiến họ mất hàng tỷ USD.
Đơn kiện được gửi lên tòa án Manhattan vào ngày 23-5, bên bị bao gồm Facebook (kể cả CEO Mark Zuckerberg) và các ngân hàng “đỡ đầu” IPO là Morgan Stanley, Goldman Sachs Group Inc và JPMorgan Chase & Co.
Theo đó, Facebook và các ngân hàng bảo lãnh IPO đã cố tình ém nhẹm dự báo giảm doanh thu của công ty trong 12 tháng tới, mà chỉ xì tin này cho một số đối tác đặc biệt. Nhà đầu tư trong đơn kiện cho biết tính đến ngày 22-5, họ bị lỗ khoảng 2,5 tỷ USD vì đã mua vào cổ phiếu của Facebook.

Sự lao dốc của cổ phiếu Facebook khiến nhiều người thảng thốt suốt hơn 1 tuần qua.