Tuesday, July 31, 2012

Anh trai tổng thống Hàn Quốc bị truy tố

Các nhà tư pháp Hàn Quốc cuối tuần qua đã truy tố ông Lee Sang-Deuk, anh trai đương kim Tổng thống Lee Myung-Bak, với cáo buộc nhận hối lộ.

Ông Lee Sang-Deuk
Các công tố viên cho rằng ông Lee sẽ phải ra trước vành móng ngựa vì đã nhận 600 triệu won (523.000USD) từ 2 ngân hàng tiết kiệm Solomon và Mirae đang gặp vấn đề và 157 triệu won từ một công ty dệt may. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc anh của Tổng thống đương nhiệm bị bắt và truy tố.
Ông Lee, từng là Nghị sĩ Quốc hội trong 6 nhiệm kỳ liên tiếp, đã bị bắt từ ngày 11-7 và bị giam cho đến nay, với cáo buộc nhận hối lộ để “gây ảnh hưởng” lên các quan chức thực hiện kiểm toán ở các ngân hàng tiết kiệm, từ đó giúp họ không bị trừng phạt.
“Tội của ông Lee đã được xác định và có lý do để lo ngại nghi phạm đang tìm cách hủy bằng chứng, dựa vào vị trí và ảnh hưởng chính trị của mình” - Thẩm phán Park Byong-Sam phát biểu với hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc.

Thursday, July 26, 2012


London mong đợi gì từ Olympic?

Ngày mai 27-7, olympic london sẽ khai mạc. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, các nhà hoạch định chính sách ở London vẫn sẵn sàng chi mạnh tay, nhằm biến Olympic London thành một thế vận hội tốn kém nhất từ trước đến nay. Liệu khoản “đầu tư” này sẽ sinh lời?
2,4 hay 24 tỷ bảng?
Lúc đầu, các nhà chức trách ước tính việc tổ chức Olympic chỉ tiêu tốn khoảng 2,37 tỷ bảng. Nhưng đến năm 2007, Ủy ban Tổ chức Olympic London (LOCOG) điều chỉnh chi phí cho việc xây dựng và tổ chức Thế vận hội London ước tính tiêu tốn khoảng 9,3 tỷ bảng (14,5 tỷ USD), tăng gần 4 lần.
Trong đó, việc xây dựng cơ sở hạ tầng chuẩn bị cho Olympic tiêu tốn 7 tỷ bảng, bao gồm các công trình như đường sá, cầu cống, sân vận động Olympic có sức chứa 80.000 chỗ ngồi, trung tâm truyền thông có mái che đủ chỗ cho 20.000 phóng viên tác nghiệp…
Tuy nhiên, theo ước tính của đài BBC, riêng dự án xây dựng Công viên Olympic đã tiêu tốn tới 9 tỷ bảng (13,9 tỷ USD), bao gồm các công trình như Trung tâm Thể thao dưới nước, Đấu trường Bóng rổ, sân vận động Olympic (486 triệu bảng), khu đấu hockey, pô lô nước... Trong khi đó, Công viên Olympic chưa phải là hạng mục duy nhất để chuẩn bị cho việc đăng cai Thế vận hội.
Olympic 2012 sẽ là gói kích cầu cho kinh tế Anh?

Marissa Mayer - Giỏi việc nước, đảm việc nhà?

Chỉ vài giờ sau khi Yahoo Inc. chọn Marissa Mayer (ảnh) làm tân CEO, những tranh cãi bắt đầu: Làm sao nữ kỹ sư 37 tuổi này có thể hoàn thành tốt một lúc 2 vai trò mới cùng cam go như nhau là làm một người mẹ tốt và vực dậy nhà khổng lồ internet đang đuối sức.

Lương Chấn Anh có lươn lẹo?

Đặc khu trưởng Hồng Công Lương Chấn Anh (ảnh) đang đối mặt với áp lực từ chức sau khi bị kiện lên tòa án tối cao vì tội nói láo với cử tri trong khi tranh cử.
Tờ Hong Kong Standard cho biết Tòa án Tối cao Hồng Công hôm 12-7 đã bắt đầu xét xử theo đơn kiện của 2 nhà làm luật ủng hộ dân chủ chống lại ông Lương Chấn Anh. Theo đó, ông Lương bị tố đã nói dối về những phần xây dựng phi pháp trong căn nhà xa hoa trị giá 64 triệu USD của ông ở quận Peak khi tranh cử chức đặc khu trưởng.
 Đơn kiện được gửi lên bởi Chủ tịch đảng Dân chủ (DP) Albert Ho Chun-yan (Albert Hồ), cũng là ứng viên trong đợt tranh cử, và Leung Kwok- hung của đảng Dân chủ Xã hội (LSD).
Luật sư Martin Lee Chu-ming nói thân chủ của ông, Albert Hồ, là một người bị thua trong đợt tranh cử đó, nên có quyền đòi phán xét lại kết quả bầu cử. Khi tranh cử ông Lương tuyên bố mạnh miệng rằng tuyệt đối không có những kiến trúc phi pháp trong nhà của mình, đồng thời loại các đối thủ khác bằng cách moi móc những phần xây dựng trái phép trong nhà của họ.
Ở Hồng Công đất chật người đông, những chuyện liên quan đến nhà ở rất nhạy cảm. Nổi bật trong số những người bị “ngã ngựa” vì có phần nhà xây trái phép là ông Đường Anh Niên, người được dự báo sẽ đắc cử trước khi bị phát hiện xây dựng “cung điện ngầm” không phép dưới ngôi nhà của mình ở Kowloon Tong.

Muốn giàu phải gan?

Ở những nước phát triển như Hoa Kỳ, báo cáo của cơ quan thuế là một trong những tài liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt đối với những người muốn tìm phương hướng để làm giàu. Lý do: trong đó công bố rất rõ ràng nguồn gốc tiền bạc của những người giàu có và cách họ kiếm ra lợi nhuận.
Theo danh sách danh sách 400 cá nhân được hoàn thuế thu nhập nhiều nhất hàng năm của Tổng cục Thuế Hoa Kỳ (IRS), không ai trở nên giàu có nếu chỉ đơn giản là làm công ăn lương. Theo bản báo cáo mới nhất của IRS, 400 cá nhân đóng thuế nhiều nhất năm 2009 đóng 77,4 triệu USD tiền thuế, thấp hơn nhiều so với 109,7 triệu USD năm 2008 và 138,8 triệu USD năm 2007.
Doanh thu bình quân của những người này năm 2009 là 202,4 triệu USD (thấp hơn so với bình quân 334,8 triệu USD năm 2007). Trong đó, 8,6% từ lương và tiền công, 6,6% từ lãi suất gửi ngân hàng, 13% từ tiền chia cổ tức, 19,9% từ việc hợp tác hay mở doanh nghiệp. Phần lớn nhất, 45,8%, đến từ việc đầu cơ vốn (như lướt sóng chứng khoán hay bất động sản, vàng…).
Bình quân, mỗi người trong 400 cá nhân này thu về 92,6 triệu USD từ đầu cơ vốn, tương đương 16% tổng doanh thu đầu cơ vốn của tất cả người đóng thuế.
Người ta không thể giàu có nếu chỉ làm công ăn lương và không “liều”?

9 ngân hàng lớn nộp “di chúc sống”

Tuần trước, 9 định chế tài chính lớn nhất Hoa Kỳ - những ngân hàng từng được gọi là “quá lớn để sụp đổ” - đã phải nộp lên Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi liên bang (FDIC) các bản “di chúc sống”, trong đó đề xuất phương án “tự xử” của ngân hàng khi lâm nguy mà không nhận cứu trợ từ chính phủ.
Những ngân hàng này gồm: Bank of America, Barclays, Citigroup, Credit Suisse, Deutsche Bank, Goldman Sachs, JPMorgan Chase, Morgan Stanley và UBS. Ngoài 9 ngân hàng này, hơn 100 ngân hàng khác cũng sẽ phải đệ trình “di chúc sống” trong năm 2013.
Và các ngân hàng này phải cập nhật bản “di chúc” này mỗi năm nếu tình hình hoạt động có những thay đổi đáng kể. Đây là một phần trong những quy định của Đạo luật Ngân hàng Dodd-Frank được đề suất theo sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Theo đó, các ngân hàng phải tự đề xuất kế hoạch chia tách và bán tài sản trong trường hợp đối diện nguy cơ đổ vỡ. Sự cải tổ này là một phần trong các nỗ lực nhằm đảm bảo các ngân hàng có đủ ngân sách để tự “chữa trị” mình trước những khoản thua lỗ khổng lồ và không tổn hại đến hệ thống tài chính toàn cầu nếu họ bị sụp đổ.
Các ngân hàng buộc phải liệt kê chi tiết các tài sản và các khoản nợ, mức độ tham gia vào các công ty khác, đồng thời nêu rõ có thể tự xử lý nhanh chóng quá trình phá sản một cách có trật tự.
JPMorgan Chase cũng nằm trong những ngân hàng phải nộp “di chúc sống”.

“Quỷ Đỏ” lên sàn

Câu lạc bộ (CLB) bóng đá Anh Manchester United (M.U) có kế hoạch huy động 100 triệu USD thông qua việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) tại Hoa Kỳ, đã nộp đơn IPO lên Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) vào chiều muộn ngày 3-7.
Cho đến nay, CLB được mệnh danh là “Quỷ Đỏ” này chưa tiết lộ sẽ chào bán bao nhiêu cổ phiếu, với mệnh giá bao nhiêu. Kể từ khi bị mua lại bởi nhà tỷ phú Hoa Kỳ Glazer năm 2005, CLB nổi tiếng nhất nước Anh này luôn ngập trong nợ nần.
Để giải quyết phần nào vấn đề ngân sách, Quỷ Đỏ từng có kế hoạch IPO ở Singapore hồi tháng 8-2011 với mục tiêu huy động khoảng 1 tỷ USD. Tuy nhiên, việc IPO ở châu Á đã phải hoãn lại khi các nhà bảo lãnh dẫn đầu là Morgan Stanley cảnh báo việc huy động ở nơi Graff Diamonds và Formula One từng rút lui là khá nhiều rủi ro.
Dù phát hành cổ phiếu ra công chúng, gia đình Glazer vẫn có kế sách để giữ quyền kiểm soát đối với M.U thông qua việc xây dựng cổ phiếu 2 cấp. Theo đó, cổ phiếu cấp B do thành viên gia đình Glazer giữ sẽ có giá trị cao hơn 10 lần so với cổ phiếu cấp A sẽ được bán đại trà.
Từ nhiều năm qua, các fan hâm mộ của Quỷ Đỏ chỉ trích kịch liệt rằng nhà Glazer điều hành yếu kém đã khiến CLB ngày càng ngập sâu trong nợ nần. Xung đột trong M.U lên cao nhất vào năm 2010, khi công nợ của CLB chạm mức 1 tỷ bảng (1,55 tỷ USD), khiến các fan hâm mộ tổ chức hàng loạt cuộc biểu tình phản đối ban điều hành.
Trong 2 năm qua, các khoản nợ đã được giảm bớt, và lợi nhuận đã quay lại với Quỷ Đỏ dù khá khiêm tốn. “Chúng tôi dự định sẽ dùng tất cả tiền thu ròng từ cuộc IPO để giảm bớt nợ nần”, cáo bạch IPO viết.
Hy vọng sau khi niêm yết, cổ phiếu của Quỷ Đỏ sẽ không bị đỏ.

Bob Diamond - Kim cương biến chất

 Diamond có nghĩa là kim cương. Khi về cầm quân cho ngân hàng Barclays (Anh) hồi năm 2011, Bob Diamond (ảnh) từng tuyên bố sẽ là một công dân tốt. Tuy nhiên, chỉ hơn 1 năm sau, ngân hàng do ông lãnh đạo bị vướng vào scandal thao túng lãi suất, bị các cơ quan chức năng ở cả 2 bên bờ Đại Tây Dương điều tra.
Dưới sức ép của London và Washington, ngày 27-6, Barclays phải nộp phạt 290 triệu bảng (451 triệu USD), trong đó bao gồm khoản phạt 59,5 triệu bảng cho Cơ quan Quản lý Tài chính Anh (FSA) - mức phạt cao nhất đối với một ngân hàng trong lịch sử của FSA.
Theo cáo buộc của FSA, Barclays và một số ngân hàng lớn đã kiếm lời bất chính bằng cách mời chào hàng nghìn doanh nghiệp vay, sau đó tác động để thao túng lãi suất cho vay liên ngân hàng London (LIBOR) và lãi suất cho vay liên ngân hàng châu Âu (EURIBOR) theo hướng tăng lên, đẩy các doanh nghiệp vay mượn vào chân tường.
LIBOR và EURIBOR là các lãi suất tham chiếu quan trọng trên thị trường liên ngân hàng, thị trường thế chấp và có khoảng 500.000 tỷ USD đầu tư, được xem là các chỉ số cơ bản của hoạt động tài chính ở châu Âu và thế giới.

CN vũ khí toàn cầu-ngành kinh doanh hốt bạc (P4)

Kiểm soát vũ khí
Chi tiêu quân sự có thể mang lại sự giàu có cho một nhóm lợi ích, nhưng phương hại đến hòa bình và an ninh quốc gia, khu vực và quốc tế. Đó là chưa kể thế giới sẽ mất đi một nguồn lực vô cùng lớn lẽ ra dành cho phát triển kinh tế và xã hội. Vì vậy, luôn có những nỗ lực kiểm soát việc mua bán, phổ biến vũ khí ở tầm quốc gia và quốc tế.
Chính sách súng
Việc kiểm soát vũ khí trong một nước được giới chuyên môn gọi là “chính sách súng”. Đó có thể là những chương trình kiểm soát việc mua bán, tàng trữ và phổ biến “vũ khí nóng” đối với các cá nhân và tổ chức. Nhìn chung, các nước đều hạn chế việc tàng trữ và sở hữu súng cá nhân, ngoại trừ những trường hợp cá biệt và phải có giấy phép.
Tuy nhiên, có những nước việc sở hữu súng được thừa nhận như “quyền tự vệ”, chẳng hạn tại Hoa Kỳ, nơi có tới 35% hộ gia đình sở hữu súng (tính đến năm 2006). Tuy nhiên, “chính sách súng” ở Hoa Kỳ đã bị chỉ trích nhiều lần, đặc biệt sau khi diễn ra những vụ thảm sát bằng súng ở trường học và mới đây nhất là vụ xả súng trong rạp chiếu phim khiến 14 người thiệt mạng.
Giới chống đối cho rằng việc dễ dàng sở hữu súng là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ xả súng. Tại châu Âu, năm 2008 các nước Liên minh châu Âu (EU) thông qua EU Directive 2008/51/EC, theo đó kiểm soát chặt chẽ hơn tình trạng sở hữu súng của những người có giấy phép như thợ săn, nhà sưu tầm…
Không phổ biến hạt nhân
Các hiệp ước kiểm soát vũ khí thường được xem như một cách để ngăn chặn những cuộc chạy đua vũ khí tốn kém vốn bị xem là lãng phí tài nguyên trên hành tinh và phương hại đến hòa bình tương lai.
Một số hiệp ước lại được dùng để ngăn chặn việc phổ biến một loại công nghệ quân sự nào đó (như công nghệ vũ khí hạt nhân hoặc tên lửa liên lục địa) để bảo đảm các nước tham gia sẽ không trở thành nạn nhân của những công nghệ giết người đó.
Trong khi kiểm soát vũ khí được nhiều nhà cổ súy hòa bình xem như một công cụ chính để chống lại chiến tranh, các bên tham gia lại đơn giản xem chúng như một cách để giới hạn chi phí ngất ngưởng của việc phát triển và chế tạo vũ khí, thậm chí giảm chi phí đi kèm với chiến tranh.
Biểu tình bên ngoài hội nghị bàn về Hiệp ước buôn bán vũ khí của Liên hiệp quốc.

CN vũ khí toàn cầu-ngành kinh doanh hốt bạc (P3)

Doanh thu khổng lồ
Gia tăng chi tiêu quân sự, chạy đua vũ khí tối tân đã mang đến doanh thu khổng lồ cho những tập đoàn buôn bán vũ khí, những kẻ được mệnh danh “lái buôn thần chết”.
Nhộn nhịp mua bán
Quốc gia xuất khẩu vũ khí nhiều nhất hành tinh không ai khác hơn là cường quốc quân sự Hoa Kỳ. Tính theo thang giá trị SIPRI Trend Indicator Value lấy thời giá 1990 làm chuẩn, năm 2008 Hoa Kỳ thu được 6,46 tỷ USD từ việc xuất khẩu vũ khí.
Doanh thu buôn bán vũ khí không ngừng tăng lên bất chấp xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính hay suy thoái kinh tế toàn cầu và đạt 10 tỷ USD vào năm ngoái.
Tính chung giai đoạn 2008-2011, kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hoa Kỳ lên tới 31,21 tỷ USD, chiếm 30% tổng xuất khẩu vũ khí trên thế giới. Đối thủ Nga về nhì với 25 tỷ USD, chiếm 24%. Cách khá xa, xếp ở vị trí thứ 3 là Đức với 8,56 tỷ USD, kế đó là Pháp 4,3 tỷ USD, Trung Quốc 4,3 tỷ USD, Anh 4,2 tỷ USD.
Nếu xét theo tốc độ tăng trưởng %, Trung Quốc nổi lên như một hiện tượng khi xuất khẩu nhảy vọt từ 593 triệu USD năm 2008 lên 1,01 tỷ USD năm 2009 và bắt đầu nhỉnh hơn Anh vào năm 2010 với 1,33 tỷ USD.
Về khách hàng nhập khẩu vũ khí giai đoạn năm 2008-2011, các quốc gia châu Á chi tiêu mạnh tay nhất. Ấn Độ đứng đầu với 10,4 tỷ USD, thứ nhì là Pakistan 6,3 tỷ USD, phần nào biểu hiện mối quan hệ nhiều gút mắc giữa 2 quốc gia láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân.
Các nước Đông Á gồm Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản xếp thứ 3, 5 và 20 với giá trị nhập khẩu lần lượt là 5,3 tỷ USD, 4,56 tỷ USD và 1,66 tỷ USD. Trong khối ASEAN, Singapore nhập khẩu vũ khí nhiều nhất, với kim ngạch nhập khẩu 4,7 tỷ USD, Malaysia đứng nhì với 2,5 tỷ USD và thứ 3 là Việt Nam với 1,38 tỷ USD.
Hoa Kỳ tuy là nước xuất khẩu số 1 nhưng đồng thời họ cũng nhập khẩu không ít, xếp thứ 8 với 3,65 tỷ USD.
Điểm mặt các “đại gia”
Các tập đoàn quốc phòng của Hoa Kỳ chiếm ưu thế trên thị trường. Trong 3 năm 2009-2011, Hoa Kỳ đã gia tăng bán vũ khí sang các nước như Australia gần 3 tỷ USD, Hàn Quốc 2,8 tỷ USD, Singapore 2,15 tỷ USD, Pakistan 1,8 tỷ USD, Các tiểu vương quốc A rập thống nhất 1,5 tỷ USD, Iraq 1,2 tỷ USD, Hy Lạp 1,09 tỷ USD, Afghanistan 1,06 tỷ USD.
Chạy đua vũ khí tấn công - phòng thủ, vòng lẩn quẩn
mang lại tiền bạc cho các “lái buôn thần chết”.

Công nghiệp vũ khí toàn cầu-Kinh doanh hốt bạc (P2)

Chạy đua công nghệ
Trước tiềm năng và nguồn lợi to lớn của ngành công nghiệp vũ khí, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ và tranh giành quyền lợi quốc gia, các công ty, chính phủ đua nhau tung ra những loại vũ khí tối tân nhất.
Cuộc đua trên không
Trong các cuộc chiến tranh hiện đại, chiến đấu cơ luôn là lực lượng mang tính quyết định. Vì vậy, đây là một phân khúc luôn mang lại những hợp đồng béo bở cho các nhà sản xuất vũ khí, đặc biệt với những loại chiến đấu cơ hiện đại.
Theo xếp hạng của đa số các tổ chức nghiên cứu vũ trang, dòng chiến đấu cơ hiện đại nhất cho đến nay là những chiếc F-22 do Công ty Lockheed Martin (Hoa Kỳ) chế tạo. Đây cũng là dòng chiến đấu cơ đắt nhất hiện nay.
Theo tính toán của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra năm 2006, giá trị mỗi chiếc F-22 khoảng 361 triệu USD nếu tính cả chi phí phát triển. Lockheed Martin là nhà thầu chính và chịu trách nhiệm chính về khung, các hệ thống vũ khí và lắp ráp hoàn thành chiếc F-22. Boeing cung cấp cánh, khung đuôi và các hệ thống điện tử tích hợp.
Tính đến năm 2006, Lockheed Martin bán được tổng cộng 183 chiếc F-22 cho Lầu Năm góc. Đến tháng 7-2007, công ty này nhận được đơn đặt hàng thêm 60 chiếc trị giá 7,3 tỷ USD. Cho đến nay, F-22 vẫn bị cấm bán ra nước ngoài. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có phiên bản “phổ thông” của F-22 là F-35, tích hợp đa số các ưu điểm của F-22 nhưng có giá thành rẻ hơn và được bán ra nước ngoài.
Nhằm bắt kịp công nghệ không quân của Hoa Kỳ, Nga và Ấn Độ đã hợp tác để phát triển chiếc Sukhoi PAK FA T-50, loại chiến đấu cơ tích hợp kỹ thuật từ cả Su-47 và MiG 1.44, dự kiến đưa vào sử dụng năm 2015. Có một số xếp hạng để T-50 ở vị trí chiến đấu cơ hiện đại nhất, điều này cho thấy sự kỳ vọng đối với loại chiến đấu cơ này. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có F-22 mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện để xếp vào thế hệ chiến đấu cơ thứ 5.
Nga cũng rất ít khi so sánh T-50 với F-35 mà chỉ cạnh tranh với F-22, nhưng giới quan sát tin rằng F-35 mới là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của T-50, vì cả 2 loại chiến đấu cơ này đều được phép xuất khẩu, Nga hy vọng T-50 sẽ chiếm 1/33 thị trường chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.
Tuy nhiên, so với F-35, T-50 vẫn thua nhiều mục: T-50 cần đường băng 300m để cất cánh, nhưng F-35 có thể cất cánh gần như thẳng đứng; khả năng tàng hình của T-50 không được hoàn hảo như F-35; T-50 kém hơn F-35 trong các tình huống giao tranh với mặt đất, dù trội hơn một ít trong không đối không; T-50 có tốc độ tối đa cao hơn F-35, nhưng bị hạn chế lớn trong việc khai hỏa tên lửa và bom thông minh khi đang bay với vận tốc qua ngưỡng âm thanh; hiện T-50 mới chỉ bắt đầu giai đoạn thử nghiệm thứ 2, trong khi Hoa Kỳ đã có một trường đào tạo phi công cho cả 3 phiên bản của F-35...
Tàu sân bay
Hiện nay, tàu sân bay là khao khát của nhiều nước trong bối cảnh những tranh chấp về lãnh hải ngày một gay gắt hơn. Trong lĩnh vực tàu sân bay hiện đại, dù nhiều nước cũng đang chạy đua sản xuất, nhưng Hoa Kỳ là nước vượt trội nhất, với 11 tàu sân bay đang hoạt động, hơn tất cả các nước khác cộng lại.

Công nghiệp vũ khí toàn cầu-Ngành kinh doanh hốt bạc

Kỳ 1: Gặp thời tăng tốc
Người ta ước tính hàng năm hơn 1.500 tỷ USD được chi tiêu cho các chi phí quân sự trên toàn thế giới, chiếm 2,7% GDP toàn cầu. Công nghiệp vũ khí từ nhiều năm nay luôn là ngành kinh doanh hốt bạc.
Bất chấp các cuộc khủng hoảng về tài chính, kinh tế, nợ công, suy thoái...,… chi tiêu quân sự vẫn gia tăng liên tục với mức tăng bình quân hàng năm 4,5% trong thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ mới.
Chi tiêu 1.740 tỷ USD
Các số liệu mới nhất cho biết ngành công nghiệp vũ khí toàn cầu gia tăng liên tục trong giai đoạn 1998-2010. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), tổng chi tiêu quân sự thế giới trong năm 2011 tăng tiếp 0,3%, đạt tới 1.740 tỷ USD.
Năm 2011 cũng ghi nhận sự thay đổi trong các quốc gia chi tiêu quân sự hàng đầu là Brazil, Pháp, Đức, Ấn Độ, Anh và Hoa Kỳ, đã cắt giảm ngân sách quân sự như là một phần của nỗ lực giảm thâm hụt.
Kinh doanh vũ khí vẫn phát đạt bất chấp khủng hoảng kinh tế.

Giáo dục-Nguồn lực quốc gia (P2): Những hình mẫu

Giáo dục được xem là một trong những nguồn lực quan trọng giúp Hàn Quốc vươn lên từ một nước nghèo đói sau chiến tranh cách nay hơn 50 năm, thành một trong những nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới (nằm trong nhóm G20) hiện nay. Giáo dục cũng được Qatar, một nước giàu có với trữ lượng dầu mỏ dồi dào, chọn làm nguồn lực phát triển đất nước thời hậu dầu mỏ...
 Hàn Quốc - Thịnh vượng nhờ giáo dục
Theo phúc trình của OECD, vào những năm 50 của thế kỷ trước, Hàn Quốc có mức sống chỉ ngang ngửa với Afghanistan. Tuy nhiên, hiện nước này là một trong những nền kinh tế mới nổi hàng đầu và có một trong những hệ thống giáo dục hiệu quả nhất thế giới.
Dù chi tiêu chỉ gần bằng 1/2 so với Hoa Kỳ ở bậc tiểu học và thấp hơn mức trung bình của thế giới, Hàn Quốc lại đạt được những kết quả cao trong giáo dục. Chính điều này đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu quốc tế.
Một góc Education City của Qatar.

Giáo dục-Nguồn lực quốc gia (Kỳ 1): Giáo dục và kinh tế

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Từ xưa cha ông ta đã xem giáo dục như một nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Trên thế giới, giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá sự phát triển của một nước. Vì thế, các nhà hoạch định chính sách tại nhiều nơi trên thế giới đã mạnh tay chi cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực, như một cách bù đắp cho nguồn tài nguyên thiên nhiên rồi sẽ cạn kiệt.
Có một quan niệm được phổ biến khá rộng rãi rằng một nước có dân trí cao hơn sẽ hấp dẫn nhiều doanh nghiệp trả lương cao hơn, từ đó giúp gia tăng sản lượng của nền kinh tế. Tuy nhiên, định lượng rạch ròi vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế là công việc vô cùng phức tạp.
Năng suất lao động
Năng suất lao động bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả giáo dục và trình độ kỹ năng của lực lượng lao động. Giáo dục và kỹ năng là quan trọng vì chúng gia tăng khả năng thực hiện một công việc hoặc dùng các công nghệ sản xuất của người lao động.
Những công nhân có trình độ giáo dục cao hơn thường tốt hơn trong việc thích ứng với một nhiệm vụ mới hay sự thay đổi trong công việc. Hơn nữa, giáo dục giúp người ta gia tăng khả năng giao tiếp và thấu hiểu người khác, là tiền đề quan trọng giúp họ làm việc theo nhóm hiệu quả hơn.
Và không nghi ngờ gì, năng suất lao động cao sẽ khiến kinh tế đất nước phát triển nhanh hơn, thu hút các nhà đầu tư hơn so với những nước có năng suất lao động kém hơn.
Nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của người Hoa Kỳ gia tăng nhanh chóng sau thế chiến 2, điều này lý giải cho sự tăng trưởng kinh tế thần tốc của họ. Cụ thể, năng suất bình quân mỗi giờ vào năm 1994 cao gấp 3 lần so với năm 1947.
Dù tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Hoa Kỳ hiện không nhanh như trước đây, nhưng nền kinh tế số một hành tinh vẫn là nơi có năng suất lao động cao nhất thế giới, theo nghiên cứu của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ.
Nghiên cứu của Bộ Lao động Hoa Kỳ (năm 1993) cho thấy có một sự tương quan khá rõ rệt giữa đầu tư cho giáo dục và năng suất lao động. Cụ thể, nhà nghiên cứu Denison (1992) ước tính giáo dục đóng góp khoảng 20% cho tăng trưởng thu nhập bình quân ở Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1948-1973, một nghiên cứu khác cho thấy giáo dục đóng góp 17% cho tăng trưởng kinh tế từ năm 1973-1984.
Nghiên cứu của Kim và Lau (1992) tại các nước khác cũng cho kết luận tương tự. Trong giai đoạn 1957-1985, giáo dục đóng góp từ 11-27% tăng trưởng kinh tế tại 5 nước công nghiệp hàng đầu. Nước thấp nhất (Hoa Kỳ, Nhật Bản) là 11%, trong khi nước cao nhất là CHLB Đức (27%). Các nghiên cứu cho thấy một điểm chung là tất cả những nước có tỷ lệ dân số hoàn thành bậc trung học cao hơn sẽ có năng suất lao động cao hơn.
Chi phí và lợi ích
Những nước có số dân theo học và hoàn tất các chương trình chính quy thường chứng kiến tăng trưởng kinh tế nhanh hơn so với các nước có tỷ lệ dân số đi học ít. Theo UNESCO và Chương trình Phát triển Nhân lực Liên hiệp quốc, tỷ lệ trẻ em đi học đúng tuổi (tỷ lệ nhập học) tại các nước phát triển luôn cao hơn so với các nước đang phát triển.
Theo nghiên cứu của Global Partnership, bình quân cứ thêm 1 năm đi học ở trường, người lao động sẽ có thu nhập cao hơn 10% so với người khác. Một nông dân sẽ có sản lượng cao hơn 9% nếu anh ta đi học ít nhất 4 năm tiểu học.
Ấn Độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ lợi thế nguồn nhân lực trình độ công nghệ cao.

Nhật Bản-Thập niên mất mát (P2): Cần chống đúng chỗ

Sau hàng trăm nghiên cứu, các nhà phân tích kết luận rằng chính những chính sách sai lầm của Nhật Bản đã làm trầm trọng hơn các cuộc suy thoái và tác động của thập niên mất mát.
Cho vay chọn lọc
Một trong những sai lầm cơ bản được cho bắt nguồn từ cơ chế quản lý hệ thống tài chính lỏng lẻo, tạo ra một môi trường an toàn giả tạo. Trước khi rơi vào thập niên mất mát, Nhật Bản áp dụng cơ chế Basel I để quản lý hệ thống tài chính trong nước.
Các quy định về vốn của cơ chế này chủ yếu tập trung về lượng chứ không chú ý đến chất (độ rủi ro) của các khoản cho vay. Nói cách khác, một khoản vay cho một doanh nghiệp khỏe mạnh cũng đòi hỏi bỏ ra lượng vốn dự phòng tương đương với khoản vay đối với doanh nghiệp nhiều rủi ro.
Điều này tạo ra một môi trường an toàn giả tạo làm che mắt cả nhà đầu tư và nhà cho vay. Các ngân hàng đáp ứng được những yêu cầu của luật định, dù không bao giờ phân biệt rạch ròi loại nợ họ nắm giữ.
Không có chuẩn mực để đo những giá trị minh bạch và rủi ro, Basel I tỏ ra kém hiệu quả trong việc ngăn chặn những nguy cơ hệ thống.
Đầu năm 1992, nhận ra nền kinh tế sẽ không sớm tăng trưởng trở lại, Chính phủ Nhật Bản nhanh chóng thông qua gói kích thích kinh tế chống suy thoái lần đầu tiên. Chính phủ gia tăng chi tiêu công và cho vay trong vài năm tiếp theo để chống lưng cho những công ty tài chính đang thất bại.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cố chữa sự đau đớn của nền kinh tế bằng cách cho vay một lượng lớn với doanh nghiệp. Nhưng những nỗ lực tái cấp vốn ra thị trường lại phớt lờ những vấn đề về quản lý trong các công ty đang chết dần.
Đó là một sai lầm tốn kém. Vận động từ các nhóm lợi ích ở trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế đã dẫn đến việc cho vay vô tội vạ và tiền của chính phủ đổ vào những doanh nghiệp thây ma.
Chính sách thuế dài hạn
Ở những giai đoạn khác nhau, Nhật Bản cố vượt qua tình trạng hỗn loạn kinh tế bằng cả 2 cách tăng và giảm thuế. Có 2 đợt giảm thuế chính trong thập niên mất mát: chương trình giảm 5.800 tỷ yen (69 tỷ USD) thuế thu nhập năm 1994, kéo dài trong 1 năm; chương trình giảm 4.000 tỷ yen (46 tỷ USD) thuế thu nhập năm 1998, kéo dài 2 năm. Vấn đề là các chương trình giảm thuế này không kéo dài, vì vậy không gia tăng tổng tiêu thụ dài hạn.
Giảm phát năm 1995 khiến thu nhập ngân sách giảm. Trong một nỗ lực kìm chế nợ công gia tăng, thuế tiêu thụ được nâng từ 3% lên 5% vào năm 1997, khiến nền kinh tế đình trệ trở lại.
Từ trường hợp Nhật Bản, giới chuyên môn phát hiện rằng giảm thuế tạm thời kết hợp tăng chi tiêu không kích thích tăng trưởng kinh tế. Việc tăng thu ngân sách thông qua tăng thuế cũng không đạt hiệu quả. Chỉ có giảm thuế dài hạn mới cho phép các công ty giữ được nhiều lợi nhuận hơn, từ đó đầu tư nhiều hơn và mở rộng doanh nghiệp, thuê thêm nhân công, trả cổ tức và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Giảm thuế thu nhập cá nhân giúp người ta kiểm soát tốt hơn thu nhập, có tiền trả bớt nợ, gửi tiết kiệm, đầu tư và tăng tiêu dùng. Những chính sách thuế đó mới là cách nhanh nhất để chống lại một cuộc suy thoái.
Cân nhắc đầu tư công
Trong nỗ lực kích thích tăng trưởng, Nhật Bản khởi động một chương trình đầu tư công khổng lồ, trị giá hàng nghìn tỷ yen. Họ xây đường sá, cầu cống, sân bay với mục đích tạo công ăn việc làm và thúc đẩy kinh tế. Nhưng nỗ lực này cũng không mang lại kết quả.
Trong những năm 1990, Nhật Bản thông qua 10 gói kích thích tài chính, trọng tâm là các công trình công cộng, với trị giá hơn 120.000 tỷ yen (1.400 tỷ USD). Khi gói xây dựng này thất bại trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ lại thử một gói khác.
Nhưng các gói này đều không thành công, ngược lại chúng khiến xứ Phù Tang ngập trong núi nợ và điều này cản trở hồi phục kinh tế hàng năm trời. Tính luôn các khoản vay ngoài ngân sách, Nhật Bản nợ ước tính hơn 200% GDP vào năm 2001.
Những quyết sách đối phó sai lầm có thể khiến kinh tế tổn hại trầm trọng hơn.

Nhật Bản-Thập niên mất mát (kỳ 1): Đi tìm nguyên nhân

“Thập niên mất mát” (lost decade) là thời kỳ đình trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt những năm 90 của thế kỷ trước. Trong giai đoạn này tình hình của Nhật Bản có những nét rất giống với nước ta hiện nay: Thị trường bất động sản sau thời gian dài bùng nổ rơi vào trạng thái ảm đạm, giá nhà lao dốc; lãi suất liên tục giảm nhưng kinh tế vẫn đình trệ do ngân hàng ngại cho vay vì lo nợ xấu...
Giới phân tích tin rằng nguyên nhân trực tiếp đẩy Nhật Bản vào thập niên mất mát là sự hình thành và đổ vỡ bong bóng bất động sản, kéo theo diễn biến tương tự trên các thị trường chứng khoán, tín dụng... Nhưng gốc rễ của vấn đề vẫn là những sai lầm về chính sách.
Bong bóng tài sản
Bong bóng tài sản Nhật Bản hình thành sau thời gian dài nở rộ kinh tế hậu chiến tranh và bắt đầu tăng tốc vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, một phần vì những chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ).
Với việc tiếp cận tín dụng dễ dàng, các doanh nghiệp nhanh chóng biến nền kinh tế đất nước chuyển sang đặt nền tảng trên công nghệ, đặc biệt trong ngành điện tử tiêu dùng, viễn thông và tài chính. Nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ mới và tiên tiến hơn, cộng với mức sống gia tăng, đã nuôi dưỡng “cơn điên đầu tư tài sản” được biết đến với tên “cơn sốt Heisei”, theo tên của vị Nhật Hoàng lên ngôi năm 1989.
Giá trị của đồng yen tăng mạnh trong thời kỳ này nhờ Tokyo vươn lên thành một trung tâm tài chính quốc tế, cộng với tác động từ Thỏa thuận Plaza 1985 - một thỏa thuận điều chỉnh tỷ giá USD giảm so với yen. Thị trường chứng khoán Nhật Bản tăng đột biến trong thời gian này, với chỉ số Nikkei 225 tăng hơn 300% từ năm 1985 đến 1989.
TTCK Nhật Bản lao dốc từ 38.975 điểm xuống 7.603 điểm trong thập niên mất mát.