Monday, August 27, 2012


Peter Sands - Người hùng hay tội đồ?

Trong nhiều năm trời, Peter Sands (ảnh), CEO của ngân hàng toàn cầu Anh Standard Chartered (SCB), được ca tụng như một người hùng của ngành ngân hàng Anh khi giúp SCB đạt tăng trưởng lợi nhuận liên tiếp 10 năm trời. Sands cũng từng huênh hoang rằng ngân hàng của ông là hình mẫu vượt các cuộc khủng hoảng toàn cầu.
 SCB được đánh giá là một trong những ngân hàng thành công nhất nước Anh, và CEO của nó - ông Sands - luôn là nhân vật của công chúng. Sands là những người “to mồm” nhất ngành ngân hàng trong việc chỉ trích các vụ bê bối xảy ra trước đó trong ngành, đặc biệt vụ bê bối lãi suất LIBOR mới đây. SCB không dính vào bê bối LIBOR hay bất kỳ một bê bối lớn nào của ngành ngân hàng.

Thursday, August 23, 2012

Hối lộ in tiền polymer


Những vụ án kinh tế chấn động (Kỳ 4)

Hối lộ in tiền polymer
Tiền polymer là phát minh độc quyền của Australia. Để cổ súy việc sử dụng loại chất liệu in tiền mới mẻ này ra khắp thế giới, 2 công ty “con cháu” của Ngân hàng Trung ương Australia (RBA) là Securency International Pty Limited (Securency) và Note Printing Australia (NBA) đã chi hàng chục triệu USD cho các quan chức và nhà môi giới nước ngoài để đổi lại các hợp đồng in tiền.
Vụ án quốc tế
Cho đến nay, đã xuất hiện những cáo buộc đưa hối lộ “chạy hợp đồng” in tiền polymer ở các nước như Nigeria, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam. Bê bối hối lộ in tiền polymer thu hút sự chú ý của công luận thế giới sau khi cảnh sát Australia cho biết điều tra của họ đã phát hiện Securency đã chi hàng triệu USD cho 2 thương nhân người Anh là Berry và Harding, có quan hệ mật thiết với các nhà chính trị cao cấp ở Nigeria.
Theo sau điều tra của cảnh sát Australia, báo chí Nigeria cáo buộc cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nigeria (CBN) Chukwuma Soludo nằm trong số những quan chức tình nghi đã nhận 1 triệu USD tiền hối lộ của Securency qua Berry và Harding năm 2006.
Trước sức ép của công luận, tháng 10-2009, Quốc hội Nigeria tuyên bố bắt tay điều tra những cáo buộc này.
Bê bối hối lộ tiếp tục lan rộng ra các nước khác. Giữa năm 2010, Ủy ban Bài trừ tham nhũng Indonesia (KPK), công bố việc điều tra các quan chức Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) đã nhận ít nhất 1,3 triệu USD tiền hối lộ từ Securency vào năm 1999 để xúc tiến việc lưu hành tiền polymer ở nước này.
Việc đưa hối lộ tại Indonesia được thực hiện thông qua người môi giới Radius Christanto, một doanh nhân Indonesia. Theo đó, Radius đã hối lộ 1,3 triệu USD cho các quan chức BI để nhận được hợp đồng trị giá 50 triệu USD về việc in 500 triệu tờ 100.000 rupiah.
Tại Ấn Độ, một người môi giới tên Aditya Khanna bị cáo buộc đã đưa hối lộ thay mặt Securency để giành được hợp đồng in tiền polymer tại đó. Tháng 10-2010, Ủy ban Chống tham nhũng Malaysia cho biết đã bắt giam 3 người vì tình nghi có dính líu đến scandal hối lộ tiền polymer, trong đó có (cựu) Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Malaysia.
Trước đó, 2 người khác đã bị bắt tại Anh sau khi cảnh sát Australia, Anh và Tây Ban Nha thực hiện những cuộc điều tra nhắm vào hoạt động đưa hối lộ tại Securency (xem ĐTTC ra ngày 3-3-2011).
Liên quan Việt Nam
Trong số báo ngày 24-1-2011, tờ The Age ở Melbourne (Australia), dẫn lời “các nguồn hợp pháp” khẳng định Securency chi hàng chục ngàn USD cho việc theo học tại Đại học Durham (Anh) của một cựu quan chức cao cấp thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Các nguồn tin của The Age cho rằng số tiền trên được trích từ một “quỹ hoa hồng” khoảng 14,95 triệu USD (15 triệu AUD) được Securency trả cho một người môi giới tại Việt Nam để giúp họ giành được hợp đồng cung cấp nguyên liệu in tiền polymer với Ngân hàng Nhà nước. Tin tức này cũng được đăng tải trên tờ Financial Times của Anh ngày 26-1.
Một bị cáo vụ hối lộ in tiền polymer rời tòa án Melbourne ngày 1-7-2011. (Ảnh: AFP)

Tham nhũng đường sắt Trung Quốc


Những vụ án kinh tế chấn động (Kỳ 3)

Tham nhũng đường sắt Trung Quốc
Năm 2008, Trung Quốc tăng gấp đôi ngân sách xây dựng đường sắt, từ 26,2 tỷ USD năm 2007 lên 49,4 tỷ USD. Năm 2009, con số này lại nhảy vọt lên 88 tỷ USD. Nhờ nguồn ngân sách khổng lồ, ngành đường sắt Trung Quốc đạt được những thành tựu vượt bậc, trở thành nước có hệ thống đường sắt cao tốc dài nhất thế giới, tàu đạt kỷ lục thế giới với vận tốc 486km/giờ.
Những tai nạn kinh hoàng
Tuy nhiên, niềm tự hào của người Trung Quốc về ngành đường sắt không kéo dài được lâu. Sự phát triển quá nhanh đã khiến ngành đường sắt nước này gánh chịu những hệ quả nghiêm trọng. Ngày 28-4-2008, cả thế giới chấn động trước tin một vụ đụng tàu xảy ra giữa Vương Thôn và Chu Thôn, gần Truy Bác, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc làm thiệt mạng 72 người và bị thương 416 người.
Nguyên nhân ban đầu được cho do lái tàu đã chạy vượt xa giới hạn tốc độ của đoạn đường sắt. Đoạn này là tuyến tạm và giới hạn tốc độ 80km/giờ nhưng tàu T195 đã chạy với tốc độ 131km/giờ. Tuy nhiên, tờ Quang Minh Nhật báo (Guangming Daily) của Trung Quốc đặt vấn đề “lỗ hổng trong quản lý của Cục Đường sắt Tế Nam”, vì cũng một tuyến đường sắt này đã phát sinh tới 2 tai nạn gây chết người chỉ trong vòng 4 tháng.
Trước đó, ngày 23-1-2008, tuyến đường sắt này xảy ra một vụ tai nạn khiến 18 người chết và 9 người bị thương. Tờ Financial Times phiên bản tiếng Hoa lại cho rằng có thể việc thiếu ngân sách là một trong những nguyên nhân gây ra tai nạn. Ngày 26-5-2009, Quốc hội Trung Quốc công bố kết quả điều tra. Theo đó, 37 người bị phát hiện có trách nhiệm trong vụ tai nạn.
Phó Giám đốc Cục Đường sắt Tế Nam và 6 người khác bị truy tố trách nhiệm hình sự, 31 người còn lại bị kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính. Trong đó, Giám đốc và Bí thư Đảng ủy Cục Đường sắt Tế Nam là 2 ông Trần Công Hành và Củi Thiết Dân bị bãi chức.
3 năm sau, ngày 23-7-2011, một vụ tai nạn đường sắt kinh hoàng khác lại xảy ra khi 2 tàu cao tốc đâm vào nhau ở quận Lộc Thành, Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang. Nguyên nhân được xác định do tàu cao tốc D3115 bị sét đánh, mất điện phải dừng đột ngột trên đường ray Shuangyu và bị tàu D301 chạy hướng Bắc Kinh - Phúc Châu đâm vào phía sau.
Điều khiến người ta giận dữ là tại sao lái tàu D301 không được thông báo về việc tàu D3115 phải dừng đột ngột. Theo các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc, có 40 trường hợp tử vong và ít nhất 192 người phải nhập viện, trong đó 12 người bị thương nặng.
Vụ tai nạn đã có ảnh hưởng lớn đến chương trình đường sắt cao tốc của Trung Quốc. Ngày 10-8-2011, Chính phủ tuyên bố ngừng cấp phép tất cả các dự án đường sắt cao tốc đang chờ phê duyệt. Bộ Đường sắt hạ tốc độ tàu cao tốc xuống. Giá vé tàu cao tốc giảm 5%.
Tháng 11-2011, tờ Tin tức Bắc Kinh đưa tin một cuộc điều tra của chính phủ cho thấy tai nạn là hậu quả từ “sự quản lý yếu kém của ngành đường sắt địa phương”. Dựa trên điều tra này, ngày 28-12, Quốc hội Trung Quốc đưa ra danh sách kỷ luật 54 quan chức chịu trách nhiệm trong vụ tai nạn.
Tham nhũng nghiêm trọng
Những người chỉ trích tin rằng tình trạng tham nhũng, bòn rút ngân sách dự án và quản lý là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các vụ tai nạn kinh hoàng của ngành đường sắt Trung Quốc những năm gần đây. Tháng 2-2011, (cựu) Bộ trưởng Đường sắt Lưu Chí Quân đã bị sa thải vì cáo buộc tham nhũng.
Ông Lưu được xem là “cha đẻ” đường sắt cao tốc Trung Quốc, vì ông chính là người thúc đẩy sự phát triển bùng nổ về đường sắt cao tốc ở nước này. Chính vì những nỗ lực đó ông còn được gọi là “Lưu Đại Vượt qua”.
Theo tờ Người quan sát Kinh tế Trung Quốc (EO), Ủy ban Trung ương Đảng về Điều tra và Kỷ luật quyết định bãi chức của ông Lưu vì “những sai phạm kỷ luật nghiêm trọng” và có liên quan đến 2 cuộc điều tra khác với những cá nhân có liên đới với ngành đường sắt Trung Quốc.
Biếm họa về tham nhũng đường sắt Trung Quốc (Nguồn: Hoàn Cầu).

“Xuất khẩu” triệu phú

Có một “sản phẩm xuất khẩu” Trung Quốc dường như ngày càng phổ biến và không thể ngăn chặn ở thời điểm hiện nay: triệu phú. Tình trạng chảy máu triệu phú tại Trung Quốc đang ngày càng đáng báo động, khi những số liệu mới nhất cho thấy số triệu phú muốn “xuất khẩu” trong 6 tháng đầu năm 2012 tăng gấp 58,7 lần so với cách đây 6 năm.
Triệu phú Louie Huang, sống ở Thượng Hải, đã kiếm được rất nhiều tiền từ bất động sản. Ông hiện có một biệt thự 200 phòng ở đó và sở hữu nhiều bất động sản tại ít nhất 5 thành phố khác trên thế giới. Nhưng trong khi các hoạt động kinh doanh vẫn chủ yếu tập trung tại Trung Quốc, ông đã chi tiền đầu tư đáng kể để được cấp quyền cư ngụ tại Singapore.
Giải thích cho điều này, Huang nói có nhiều lý do, trong đó có thể mang cả gia đình sang Singapore sinh sống bất cứ khi nào. Tuy nhiên, Huang cũng thừa nhận với nhiều bạn bè giàu có của ông, việc cảm thấy bất an với tình hình trong nước là nguyên nhân khiến họ tìm kiếm cuộc sống bên ngoài Trung Quốc.
“Hầu hết bọn họ đều nghĩ rằng dù mình có quá nhiều tiền, nhưng có thể một ngày nào đó chính phủ thay đổi chính sách và lấy chúng lại” - Huang nói.
Louie Huang cho rằng quyền cư trú ở nước ngoài sẽ bảo đảm an toàn cho gia đình.

Những công ty “vô địch” tại Olympic London

Olympic London vừa kết thúc với những chiến thắng cả trong lĩnh vực thể thao lẫn kinh tế với người Anh. Cùng với đó, một số ít các công ty đã “cày xới” được khoảng 1 tỷ bảng nhờ hoạt động tài trợ chính thức Thế vận hội.
Những công ty thiên về tiêu dùng như McDonald's và Coca-Cola, nằm trong số 11 công ty toàn cầu thiết lập chương trình Đối tác Olympic (TOP) đã chi khoảng 61 triệu bảng trong 4 năm qua theo thỏa thuận tài trợ. Tại London 2012, còn có những công ty trong nước gia nhập hàng ngũ những nhà tài trợ với 11 công ty trên.
Các đối tác bậc 1 (T1) có Adidas, nhà cung cấp trang phục thể thao chính thức và BP, nhà cung cấp nhiên liệu cho 5.000 phương tiện giao thông chính thức của giải. Lần xuống, đối tác cấp 3 (T3) có Holiday Inn, nhà cung cấp dịch vụ khách sạn chính thức cho Olympic.
Nhận biết thương hiệu là một trong những cách cơ bản để đong đếm sự thành công của hoạt động tài trợ. Nghiên cứu của Công ty Tư vấn Havas Sports & Entertainment cho thấy về mặt này, Lloyds thành công nhất, với 30% người tiêu dùng nhận biết ngân hàng này là một nhà tài trợ chính thức.
“Điều này không chỉ vì họ mua quyền tài trợ, mà vì họ là công ty đầu tiên ký với Ủy ban Tổ chức Olympic và Paralympic London (LOCOG) và sau đó đầu tư để xúc tiến thông tin này theo những cách gần gũi với người tiêu dùng” - theo Alastair Macdonald, Giám đốc Tài trợ của Havas.
Nhìn chung, các nhà tài trợ Olympic London đều thắng.

Thursday, August 9, 2012


Trốn thuế 21.000 tỷ USD/năm

Theo phúc trình của Mạng lưới Tư pháp Thuế (TJN) công bố vào cuối tháng 7, có ít nhất 21.000 tỷ USD tài sản trốn thuế tư nhân được đầu tư vào các thiên đường né thuế trên khắp thế giới năm 2010. Để dễ hình dung, con số này bằng hơn 1/4 tổng GDP toàn cầu, bằng GDP của Hoa Kỳ và Nhật Bản cộng lại.
James Henry, tác giả phúc trình, nói: “Chúng tôi nghĩ con số này chỉ tương đương khoảng 90% các tài sản né thuế trong thực tế”. Có sự chênh lệch này do phúc trình chỉ mới tính đến tài sản tài chính (các khoản tiền gửi trong ngân hàng và đầu tư), chưa “sờ” đến các tài sản khác như nhà đất, du thuyền.
Để tính ra con số trên, TJN nghiên cứu các tài sản hải ngoại dưới dạng quản lý tiền gửi và tài sản tạm giữ của 50 ngân hàng cá nhân hàng đầu thế giới. “Chúng tôi xây dựng hình mẫu của 139 nước đang phát triển trong vòng 30 năm qua, những hình mẫu phức tạp nhất từ trước đến nay về việc theo dõi nguồn vốn vào ra và giá trị của các tài sản hải ngoại” - Henry nói.
Mỗi năm có ít nhất 21.000 tỷ USD tài sản trốn thuế được tuồn vào các thiên đường
né thuế toàn cầu.

Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 3)

Tiếp tay tội phạm
Gần đây, nhiều đại gia ngân hàng Phố Wall bị phanh phui đã tiếp tay cho những giao dịch rửa tiền và tài trợ cho giới buôn ma túy và khủng bố. Dù nhận thức đầy đủ đó là những hoạt động phi pháp, các ngân hàng vẫn sẵn sàng để điều đó xảy ra hòng tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ.
Sống sót bằng tiền ma túy
Trong cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu, những giao dịch tiền ma túy chính là nguồn thanh khoản duy nhất giúp một số ngân hàng sống sót, theo Antonio Maria Costa, cựu Giám đốc Cơ quan chống Ma túy và Tội phạm Liên hiệp quốc (UNODC).
Phát biểu từ văn phòng ở Vienna, Costa nói những bằng chứng về tiền bẩn được hấp thụ vào hệ thống tài chính đã làm ông chú ý lần đầu tiên bởi các cơ quan tình báo và tòa án vào cuối năm 2008. “Trong nhiều trường hợp, tiền ma túy là vốn đầu tư thanh khoản duy nhất.
Trong nửa cuối năm 2008, mất thanh khoản là vấn đề chính của hệ thống ngân hàng và vì vậy việc có được nguồn vốn giàu thanh khoản mang tính sống còn” - Costa nói. Ông tin rằng phần lớn khoản lợi nhuận 352 tỷ USD từ ma túy đã hòa nhập vào nền kinh tế thông qua con đường này.
Costa cho biết có một số bằng chứng UNODC thu thập được cho thấy tiền của các băng đảng tội phạm đã được dùng để cứu các ngân hàng khỏi sụp đổ khi hoạt động vay mượn bị cạn kiệt: “Các khoản vay liên ngân hàng được lấy từ tiền có nguồn gốc mua bán ma túy và các hoạt động phi pháp khác. Có những dấu hiệu cho thấy một số ngân hàng đã được cứu bằng cách đó”.
Costa thêm rằng dòng tiền trên nay đã là một phần của hệ thống chính thức và đã “được rửa hoàn hảo”. UNODC ước tính hoạt động mua bán ma túy của các băng nhóm tội phạm mang về khoảng 325 tỷ USD/năm. Costa tin rằng bọn tội phạm đã cố tìm cách đưa tiền bẩn vào hệ thống tài chính thông qua các nhà ngân hàng ở Anh, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.
Điển hình Wachovia
Ngày 10-4-2006, một chiếc phản lực DC-9 hạ cánh xuống thành phố cảng Ciudad del Carmen, trên vịnh Mexico. Các binh lính Mexico khám xét và phát hiện trong máy bay chứa 5,7 tấn cocaine, trị giá 100 triệu USD. Sau 22 tháng điều tra, Cơ quan Thi hành luật chống Ma túy Hoa Kỳ (USDEA) và một số cơ quan hữu trách khác phát hiện ra những kẻ buôn ma túy mua chiếc may bay bằng tiền đã rửa thông qua một trong những ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ lúc đó là Wachovia, nay là một phần của Wells Fargo.
Các nhà chức trách phát hiện hàng tỷ USD chuyển khoản, ngân phiếu xách tay và nộp tiền mặt từ Mexico vào các tài khoản ở Wachovia. Ngay lập tức, Wachovia bị điều tra. Điều đáng chú ý là việc rửa tiền diễn ra từ năm 2004, khi Hoa Kỳ và Mexico đang tích cực đẩy mạnh cuộc chiến chống ma túy. Wachovia phải nộp phạt 160 triệu USD. Ngân hàng này cũng bị cấm vận vì thất bại trong việc áp dụng những biện pháp hữu hiệu để chống việc chuyển 378,4 tỷ USD tiền ma túy vào các tài khoản từ hệ thống hối đoái ở Mexico.
Tổng số tiền phạt chưa tới 2% lợi nhuận 12,3 tỷ USD của ngân hàng này vào năm 2009. Wachovia về sau được Wells Fargo mua lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính. Tờ Observer đã cất công điều tra về vụ này. Theo đó, một người đàn ông tên Martin Woods đã gia nhập chi nhánh Wachovia ở London vào tháng 2-2005 với chức vụ lãnh đạo chống rửa tiền cấp cao.
Trước đó ông từng làm việc trong đội cảnh sát chống ma túy ở London. Theo tiết lộ của ông, từ giữa năm 2005, ông đã đánh động cấp trên của mình (phụ trách chống rửa tiền toàn cầu của Wachovia) về những giao dịch từ các nguồn tiền đáng ngờ, nhưng đã bị phớt lờ.
Tiếp tay khủng bố
Từ sau vụ khủng bố ngày 11-9-2001, Chính phủ Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tranh chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu. Là nước phát động, những tưởng các ngân hàng ở Phố Wall sẽ đi tiên phong trong công cuộc chống lại dòng tiền khủng bố.
Tuy nhiên, mới đây nhất, ngày 7-8 (giờ Việt Nam) các nhà chức trách New York đã cáo buộc ngân hàng Standard Chartered Bank (SCB) che giấu 250 tỷ USD giao dịch với các đối tác bị nghi ngờ có liên quan đến khủng bố và những hoạt động tội phạm khác trong gần 10 năm qua. Các nhà chức trách nói SCB có những giao dịch trá hình với Iran, nước đã bị Nhà Trắng cấm vận và đưa vào danh sách tài trợ khủng bố.
Biếm họa về găng-tơ ngân hàng.

Monday, August 6, 2012


Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 2)

 Lừa đảo quy mô lớn
Các ngân hàng Phố Wall không chỉ sao nhãng chức trách chính của ngành, mà còn tiếp tay cho lừa đảo, thậm chí chính họ thực hiện những vụ lừa đảo, mà đối tượng chính là “thượng đế” của mình.
Gian lận tín nhiệm
Từ lâu, việc xếp hạng của các công ty đánh giá tín dụng (CRA) đã là vấn đề đáng ngờ. Tháng 9-2009, tờ Wall Street Journal có bài viết cho rằng 3 đại gia xếp hạng tín dụng toàn cầu Moody’s, S&P và Fitch “bán linh hồn” của họ bằng cách xếp tín nhiệm cho các loại tài sản độc hại và những công ty sa sút cao hơn lẽ thường.
Theo giới quan sát, khách hàng của các CRA, mà đa số là ngân hàng, đã đưa hối lộ để tác động vào kết quả đánh giá của CRA. “Đây là những định chế tìm kiếm lợi nhuận.
Các nhà bảo hiểm sẽ trả thêm tiền để có được hạng tín nhiệm tốt. Một kiểu hối lộ không bị luật pháp kiểm soát, các CRA cũng không chịu trách nhiệm đối với xếp hạng vô trách nhiệm của họ” - GS. ngành tài chính Ed Kane nói.
Hãng tin tài chính Bloomberg gần đây có bài viết cho biết một nhóm nhà đầu tư gửi đơn kiện Ngân hàng Morgan Stanley đã tạo áp lực lên Standard & Poor’s và Moody’s Investors Service Inc. năm 2006 để 2 hãng này định mức tín dụng “có thể đầu tư” lên 23 tỷ USD chứng phiếu bảo đảm bằng tài sản thứ cấp nhiều rủi ro.
Trong đó có trường hợp của Cheyne. Khi đó, Morgan Stanley được một nhân viên của S&P cho biết một số loại chứng khoán của Cheyne sẽ bị đánh hạng BBB, thay vì hạng A như ngân hàng mong muốn. Morgan Stanley sau đó đã gửi email tạo áp lực với S&P và kết quả Cheyne được xếp hạng A.
Trong vụ này, Bloomberg cho biết Morgan Stanley kiếm được 30 triệu USD khi các chứng phiếu của Cheyne được phát hành.

Nhiều ngân hàng lớn liên quan đến việc thao túng lãi suất LIBOR.

Thursday, August 2, 2012


Visa ép khán giả Olympic

Cùng với thỏa thuận tài trợ với ban tổ chức Olympic, Visa buộc đóng cửa tất cả các loại máy ATM khác không liên kết với visa, khiến hàng nghìn chủ thẻ phi Visa phải chịu đói chịu khát và không thể mua được hàng lưu niệm khi đến xem các trận thi đấu.
Giới quan sát đang lo ngại trước tình trạng hỗn loạn thanh toán phát sinh tại Olympic London do thiếu hụt máy ATM nghiêm trọng. Ước tính có tới 11 triệu khán giả từ khắp nơi trên thế giới đổ về xem Olympic và Paralympic London, mỗi ngày sẽ có tới 800.000 người.
Tuy nhiên, hàng nghìn người sẽ không thể tiếp cận máy ATM và không thể thực hiện các hoạt động thanh toán do nhiều khu thi đấu không có máy ATM, trong khi chỉ dành riêng cho thẻ Visa. Theo tờ Daily Mail, toàn bộ các khu thi đấu Olympic và Paralympic năm nay chỉ có… 8 máy ATM!
Hàng nghìn khán giả phải xếp hàng nhiều giờ ở sân ExCel
để rút tiền mặt vì chỉ có duy nhất 1 máy ATM.

Tội lỗi ngân hàng Phố Wall (kỳ 1)

 Ngân hàng không cho vay
Cho đến nay, nhiều chuyên gia đồng ý rằng hoạt động đầu cơ và sự vô trách nhiệm của các nhà ngân hàng Phố Wall là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Không chỉ vậy, các ngân hàng lớn còn bị chỉ trích liên quan đến các hoạt động tội phạm như lừa đảo, rửa tiền và thậm chí tiếp tay cho mafia và khủng bố.
Chức năng chính của ngân hàng là cho vay để bơm tiền vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp sản xuất, người tiêu dùng mua hàng... Tuy nhiên, điều nghịch lý là đa số các ngân hàng lớn ở Phố Wall hiện nay bỏ chính theo phụ, không chú trọng hoạt động cho vay mà lao vào những hoạt động hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng nhiều rủi ro hơn.
10% và 77%
Theo tờ Washington Post, từ năm 1999 các ngân hàng lớn bắt đầu sao nhãng dần hoạt động truyền thống của ngành ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay. Trái lại, họ kiếm tiền chủ yếu bằng việc mua bán tài sản, chứng khoán, hàng hóa phái sinh và nhiều hoạt động rủi ro cao khác.
Từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ năm 2007-2008, các ngân hàng lớn lại càng cắt giảm hoạt động cho vay đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ, vì bản thân các ngân hàng này đã mắc kẹt hàng nghìn tỷ USD trong các khoản đầu tư và nợ phái sinh.
Đơn cử, Bank of America, ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ, chỉ có 83 tỷ USD huy động từ các tài khoản tiền gửi, so với từ 1.300-1.500 tỷ USD tổng tài sản. Nói cách khác, chưa tới 10% tổng tài sản của ngân hàng này được huy động theo chức năng truyền thống của ngành ngân hàng.
Theo hãng tin tài chính Bloomberg, dựa trên những nghiên cứu của hãng và số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng JPMorgan nhận khoảng 14 tỷ USD trợ cấp từ chính phủ mỗi năm. Số tiền này giúp đại gia ngân hàng này dư dả để chi lương thưởng một cách mạnh tay.
USA Today cho biết bình quân lương nhân viên ở các ngân hàng trong chương trình TARP (chương trình ứng cứu ngân hàng trị giá 700 tỷ USD của Hoa Kỳ) tăng 9,4%/năm, trong khi các ngân hàng ngoài chương trình chỉ tăng 1,8%/năm.
2 nhà kinh tế Kenichi Ueda của IMF và Beatrice Weder Di Mauro của Đại học University of Mainz ước tính vào năm 2009, chính phủ “bảo kê” khoảng 0,8% chi phí vay mượn của các ngân hàng lớn, con số này gia tăng so với 0,6% năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát.
Tổng giá trị hỗ trợ của Nhà Trắng đối với 18 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ như JPMorgan, Bank of America Corp., Citigroup Inc. là 76 tỷ USD/năm. Con số này tương đương với toàn bộ lợi nhuận của các ngân hàng này mỗi năm, và vượt qua chi tiêu cho giáo dục hàng năm của chính phủ.
Phần của JPMorgan trong “miếng bánh” này là 14 tỷ USD/năm. Hay nói cách khác, 77% doanh thu ròng của ngân hàng này trong 4 quý vừa qua đến từ tiền hỗ trợ của chính phủ. Điều này giải thích vì sao JPMorgan sẵn sàng thao túng cho các hoạt động đầu cơ kiểu như giao dịch đã gây lỗ gần 6 tỷ USD mới đây tại London, và có thể lỗ thêm 1,7 tỷ USD vào năm tới.
Giảm cho vay, tăng đầu cơ
Hỗ trợ từ chính phủ cũng khiến các ngân hàng sao nhãng hoạt động cho vay. Theo USA Today, trong 12 tháng tính đến ngày 30-9-2009, hoạt động cho vay cá nhân và doanh nghiệp của các ngân hàng trong chương trình TARP giảm 9,1%, so với mức giảm 6,2% của các ngân hàng ngoài chương trình.
Theo Bloomberg, tổng giá trị cho vay từ 4 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ gồm JPMorgan Chase & Co., Bank of America Corp., Citigroup Inc. và Wells Fargo & Co. giảm 4,9% xuống 3.040 tỷ USD trong quý I-2012.
Người biểu tình chống hoạt động đầu cơ của ngân hàng.