Ngân hàng không cho vay
Cho đến nay, nhiều chuyên gia đồng ý rằng hoạt động đầu cơ và sự vô trách nhiệm của các nhà ngân hàng Phố Wall là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Không chỉ vậy, các ngân hàng lớn còn bị chỉ trích liên quan đến các hoạt động tội phạm như lừa đảo, rửa tiền và thậm chí tiếp tay cho mafia và khủng bố.
Chức năng chính của ngân hàng là cho vay để bơm tiền vào nền kinh tế, giúp doanh nghiệp sản xuất, người tiêu dùng mua hàng... Tuy nhiên, điều nghịch lý là đa số các ngân hàng lớn ở Phố Wall hiện nay bỏ chính theo phụ, không chú trọng hoạt động cho vay mà lao vào những hoạt động hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng nhiều rủi ro hơn.
10% và 77%
Theo tờ Washington Post, từ năm 1999 các ngân hàng lớn bắt đầu sao nhãng dần hoạt động truyền thống của ngành ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay. Trái lại, họ kiếm tiền chủ yếu bằng việc mua bán tài sản, chứng khoán, hàng hóa phái sinh và nhiều hoạt động rủi ro cao khác.
Từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ năm 2007-2008, các ngân hàng lớn lại càng cắt giảm hoạt động cho vay đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ, vì bản thân các ngân hàng này đã mắc kẹt hàng nghìn tỷ USD trong các khoản đầu tư và nợ phái sinh.
Đơn cử, Bank of America, ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ, chỉ có 83 tỷ USD huy động từ các tài khoản tiền gửi, so với từ 1.300-1.500 tỷ USD tổng tài sản. Nói cách khác, chưa tới 10% tổng tài sản của ngân hàng này được huy động theo chức năng truyền thống của ngành ngân hàng.
Theo hãng tin tài chính Bloomberg, dựa trên những nghiên cứu của hãng và số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng JPMorgan nhận khoảng 14 tỷ USD trợ cấp từ chính phủ mỗi năm. Số tiền này giúp đại gia ngân hàng này dư dả để chi lương thưởng một cách mạnh tay.
USA Today cho biết bình quân lương nhân viên ở các ngân hàng trong chương trình TARP (chương trình ứng cứu ngân hàng trị giá 700 tỷ USD của Hoa Kỳ) tăng 9,4%/năm, trong khi các ngân hàng ngoài chương trình chỉ tăng 1,8%/năm.
2 nhà kinh tế Kenichi Ueda của IMF và Beatrice Weder Di Mauro của Đại học University of Mainz ước tính vào năm 2009, chính phủ “bảo kê” khoảng 0,8% chi phí vay mượn của các ngân hàng lớn, con số này gia tăng so với 0,6% năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát.
Tổng giá trị hỗ trợ của Nhà Trắng đối với 18 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ như JPMorgan, Bank of America Corp., Citigroup Inc. là 76 tỷ USD/năm. Con số này tương đương với toàn bộ lợi nhuận của các ngân hàng này mỗi năm, và vượt qua chi tiêu cho giáo dục hàng năm của chính phủ.
Phần của JPMorgan trong “miếng bánh” này là 14 tỷ USD/năm. Hay nói cách khác, 77% doanh thu ròng của ngân hàng này trong 4 quý vừa qua đến từ tiền hỗ trợ của chính phủ. Điều này giải thích vì sao JPMorgan sẵn sàng thao túng cho các hoạt động đầu cơ kiểu như giao dịch đã gây lỗ gần 6 tỷ USD mới đây tại London, và có thể lỗ thêm 1,7 tỷ USD vào năm tới.
Giảm cho vay, tăng đầu cơ
Hỗ trợ từ chính phủ cũng khiến các ngân hàng sao nhãng hoạt động cho vay. Theo USA Today, trong 12 tháng tính đến ngày 30-9-2009, hoạt động cho vay cá nhân và doanh nghiệp của các ngân hàng trong chương trình TARP giảm 9,1%, so với mức giảm 6,2% của các ngân hàng ngoài chương trình.
Theo Bloomberg, tổng giá trị cho vay từ 4 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ gồm JPMorgan Chase & Co., Bank of America Corp., Citigroup Inc. và Wells Fargo & Co. giảm 4,9% xuống 3.040 tỷ USD trong quý I-2012.
 |
Người biểu tình chống hoạt động đầu cơ của ngân hàng.
|