Kỳ 2: Bàn tay Phố Wall
Cung cầu đương nhiên ảnh hưởng đến những cơn sốt giá lương thực
thế giới. Nhưng có một nguyên nhân quan trọng khác khiến giá mặt hàng
này tăng chóng mặt trong thời gian qua: nạn đầu cơ ở Phố Wall.
Các “phù thủy” Goldman Sachs
Những bộ óc thông minh của Ngân hàng Goldman Sachs từ lâu đã nhận
ra một thực tế đơn giản rằng không thứ gì giá trị hơn những bữa ăn
hàng ngày. Và nơi nào có giá trị, nơi đó có thể làm tiền. Năm 1991,
các nhà ngân hàng Goldman, dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Gary Cohn,
cho ra đời một sản phẩm đầu tư mới, một sản phẩm phái sinh bao gồm
24 loại nguyên liệu thô, từ kim loại quý và năng lượng đến các loại
nông sản như cà phê, cocoa, gia súc, bắp, lợn, đậu nành, và lúa mì. Bằng
những “thủ thuật” nhà nghề rất tinh vi và phức tạp, họ “hô biến”
một tập hợp hỗn độn của những mặt hàng có thực thành một công
thức toán học có thể biểu diễn bằng một con số duy nhất, được biết
đến với tên gọi Chỉ số Hàng hóa Goldman Sachs (GSCI).
Các thị trường tương lai trong truyền thống gồm 2 nhóm. Một bên là
các nông dân, các chủ kho lẫm và các nhà hoạt động thị trường có can
dự thật sự vào thị trường lương thực. Nhóm này không chỉ bao gồm
những người trồng bắp ở Iowa hay nông dân lúa mì ở Nebraska, mà có
cả những công ty đa quốc gia như Pizza Hut, Kraft, Nestlé, Sara Lee, Tyson
Foods, và McDonald – những công ty có cổ phiếu tăng hay giảm phụ thuộc
vào khả năng mang lương thực của họ đến cửa sổ xe hơi, siêu thị hay
nhà hàng. Lực lượng còn lại là các nhà đầu cơ. Những người này
không sản xuất hay tiêu thụ lương thực. Họ cũng không có chỗ để cất
giữ 20 tấn hạt bắp họ có thể mua trong vài giây nếu chúng được
chuyển đến chỗ họ. Các nhà đầu cơ kiếm tiền thông qua những hoạt
động buôn bán truyền thống, tức mua rẻ bán đắt.
Chỉ có mua và mua
Nhưng chỉ số hàng hóa của Goldman Sachs đã làm chệch hướng hệ
thống này. Cấu trúc của GSCI không hề chú trọng đến những hoạt động
truyền thống hàng bao thế kỷ qua của thị trường là mua-bán/bán-mua.
Thực tế, sản phẩm phái sinh của họ thuộc dạng “chỉ có dài hạn”,
tức được hình thành từ các loại hàng hóa được mua, và chỉ mua mà
thôi. Chiến lược “chỉ có dài hạn” này nhằm mục đích biến sản phẩm
đầu tư thành một loại tài sản giống như chứng khoán, có thể để cả
hàng thập kỷ mà không hư hại. Một khi thị trường hàng hóa được “hô
biến: trở nên giống thị trường chứng khoán, các nhà ngân hàng có
thể mong chờ dòng tiền chảy vào. Nhưng chiến lược dài hạn này phá
hỏng những bản chất tự nhiên của các thị trường hàng hóa. Thay vào
đó, nó khiến các nhà ngân hàng chỉ có mua và tiếp tục mua, cho dù
giá cả như thế nào. Và như vậy, giá hàng hóa chỉ có tăng và tăng.
Các nhà ngân hàng bắt đầu nhận ra đó là một hệ thống có thể
kiếm lời tốt, và hàng chục nhà đầu cơ ở Phố Wall đã theo chân
Goldman Sachs, trong đó có những tên tuổi lớn như Barclays, Deutsche Bank,
Pimco, JP Morgan Chase, AIG, Bear Stearns, và Lehman Brothers. Làn sóng đầu
cơ này không chỉ tạo ra những con sóng thần ở thị trường Hoa Kỳ, mà
trên cả thế giới. Từ sau sự đỗ vỡ của bong bóng công nghệ năm 2000,
số tiền chảy vào các quỹ đầu cơ hàng hóa tăng gấp 50 lần. Năm 2003,
tổng giá trị đầu cơ vào các thị trường hàng hóa tương lai ở Hoa Kỳ
chỉ đạt 13 tỷ. Nhưng khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến
TTCK sụp đổ năm 2008 và các loại ngoại tệ chính như USD, bảng Anh,
EUR... đều bị mất niềm tin, hàng hóa (trong đó có lương thực) trở
thành một nơi lý tưởng cho các quỹ mạo hiểm, quỹ hưu trí và các
quỹ đầu tư quốc gia.
Tăng 1.900%
Chỉ trong 55 ngày đầu tiên của năm 2008, giới đầu cơ đổ 55 tỷ USD
vào các thị trường hàng hóa, và đến tháng 7 cùng năm, có 318 tỷ USD
đổ vào các thị trường này. Diễn biến này dĩ nhiên đẩy giá lương
thực toàn cầu lên chót vót, và lạm phát lương thực vẫn ở mức cao
kể từ đó đến nay. Lúa mì đỏ cứng mùa xuân thường được bán với giá
từ 4-6 USD/dạ, nhưng cùng làn sóng đầu cơ, đã tăng chạm đỉnh 25 USD/dạ.
Từ năm 2005-2008, giá lương thực thế giới tăng 80%. Nghiên cứu của Viện
Chính sách Trái đất (EPI) cho biết giá lương thực càng tăng, dòng
tiền đầu cơ vào các mặt hàng này càng nhiều. Từ năm 2003-2008, dòng
tiền đầu cơ của các quỹ mạo hiểm và ngân hàng đổ vào thị trường
lương thực phái sinh tăng tới 1.900%!
Trả lời trước Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề này, Mike Masters (thuộc
Masters Capital Management) giải thích: “Chúng tôi bắt đầu ý thức về hiện tượng
đầu cơ này từ năm 2006. Trong 2 năm 2007 và 2008, nó phát triển mạnh. Từ nay,
phần lớn các vụ mua bán nông sản đều có tính đầu cơ – tôi cho là lên đến 70 hay
80%”. Theo ông, thị trường bị các ngân hàng làm méo mó: “Giả dụ ta biết một nơi
nào đó trên thế giới bị mất mùa. Bình thường, khi ấy giá gạo chẳng hạn sẽ tăng
khoảng 1 USD (cho một thùng 13 lít). Nhưng khi một thị trường có mức đầu cơ lên
đến 70 hay 80%, thì giá gạo sẽ tăng 2 hay 3 USD để chi trả các phí tổn phụ. Điều
đó làm sự mất ổn định trở thành nghiêm trọng thêm”. Theo nghiên cứu của EPI,
nhóm thứ 2 (các nhà đầu cơ) trước đây chỉ bằng 1/5 nhóm thứ nhất
(gồm nông dân, chủ kho và các nhà phân phối lương thực) trong thị
trường lương thực phái sinh. Nhưng nay, tỷ lệ này đã đảo chiều ngoạn
mục thành 4/1.
Ngày nay, các nhà ngân hàng và nhà giao dịch chiếm vị trí cao
nhất trong “chuỗi thức ăn”, ăn hết lợi nhuận của mọi người và mọi
thứ bên dưới. Gần dưới đáy chuỗi này là nông dân. Đối với họ, giá lương
thực cao hẳn nhiên là điều đáng mừng. Nhưng giới đầu cơ hàng hóa đã
khiến mọi thứ trở nên đắt đỏ hơn đối với nông dân, từ hạt giống đến
phân bón và dầu diesel (để chạy máy nông nghiệp). Dưới đáy chuỗi này
là người tiêu dùng. Đối với người Hoa Kỳ và công dân các nước phát
triển, nơi chỉ dùng 8-12% thu nhập cho thức ăn, chuyện tăng giá lương
thực chẳng ảnh hưởng mấy. Nhưng với hơn 2 tỷ người ở các nước đang
phát triển, nơi người dân chi hơn 50% thu nhập cho thức ăn, hậu quả từ
hoạt động đầu cơ là rất lớn. Năm 2008, thế giới có thêm 250 triệu
người rơi vào cảnh thiếu ăn do giá lương thực tăng cao.
No comments:
Post a Comment