Wednesday, November 23, 2011

Chiến tranh lương thực (kỳ 2)


Kỳ 2: Bàn tay Phố Wall

Cung cầu đương nhiên ảnh hưởng đến những cơn sốt giá lương thực thế giới. Nhưng có một nguyên nhân quan trọng khác khiến giá mặt hàng này tăng chóng mặt trong thời gian qua: nạn đầu cơ ở Phố Wall.

Các “phù thủy” Goldman Sachs

Những bộ óc thông minh của Ngân hàng Goldman Sachs từ lâu đã nhận ra một thực tế đơn giản rằng không thứ gì giá trị hơn những bữa ăn hàng ngày. Và nơi nào có giá trị, nơi đó có thể làm tiền. Năm 1991, các nhà ngân hàng Goldman, dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Gary Cohn, cho ra đời một sản phẩm đầu tư mới, một sản phẩm phái sinh bao gồm 24 loại nguyên liệu thô, từ kim loại quý và năng lượng đến các loại nông sản như cà phê, cocoa, gia súc, bắp, lợn, đậu nành, và lúa mì. Bằng những “thủ thuật” nhà nghề rất tinh vi và phức tạp, họ “hô biến” một tập hợp hỗn độn của những mặt hàng có thực thành một công thức toán học có thể biểu diễn bằng một con số duy nhất, được biết đến với tên gọi Chỉ số Hàng hóa Goldman Sachs (GSCI).
Các thị trường tương lai trong truyền thống gồm 2 nhóm. Một bên là các nông dân, các chủ kho lẫm và các nhà hoạt động thị trường có can dự thật sự vào thị trường lương thực. Nhóm này không chỉ bao gồm những người trồng bắp ở Iowa hay nông dân lúa mì ở Nebraska, mà có cả những công ty đa quốc gia như Pizza Hut, Kraft, Nestlé, Sara Lee, Tyson Foods, và McDonald – những công ty có cổ phiếu tăng hay giảm phụ thuộc vào khả năng mang lương thực của họ đến cửa sổ xe hơi, siêu thị hay nhà hàng. Lực lượng còn lại là các nhà đầu cơ. Những người này không sản xuất hay tiêu thụ lương thực. Họ cũng không có chỗ để cất giữ 20 tấn hạt bắp họ có thể mua trong vài giây nếu chúng được chuyển đến chỗ họ. Các nhà đầu cơ kiếm tiền thông qua những hoạt động buôn bán truyền thống, tức mua rẻ bán đắt.

Chỉ có mua và mua

Nhưng chỉ số hàng hóa của Goldman Sachs đã làm chệch hướng hệ thống này. Cấu trúc của GSCI không hề chú trọng đến những hoạt động truyền thống hàng bao thế kỷ qua của thị trường là mua-bán/bán-mua. Thực tế, sản phẩm phái sinh của họ thuộc dạng “chỉ có dài hạn”, tức được hình thành từ các loại hàng hóa được mua, và chỉ mua mà thôi. Chiến lược “chỉ có dài hạn” này nhằm mục đích biến sản phẩm đầu tư thành một loại tài sản giống như chứng khoán, có thể để cả hàng thập kỷ mà không hư hại. Một khi thị trường hàng hóa được “hô biến: trở nên giống thị trường chứng khoán, các nhà ngân hàng có thể mong chờ dòng tiền chảy vào. Nhưng chiến lược dài hạn này phá hỏng những bản chất tự nhiên của các thị trường hàng hóa. Thay vào đó, nó khiến các nhà ngân hàng chỉ có mua và tiếp tục mua, cho dù giá cả như thế nào. Và như vậy, giá hàng hóa chỉ có tăng và tăng.
Các nhà ngân hàng bắt đầu nhận ra đó là một hệ thống có thể kiếm lời tốt, và hàng chục nhà đầu cơ ở Phố Wall đã theo chân Goldman Sachs, trong đó có những tên tuổi lớn như Barclays, Deutsche Bank, Pimco, JP Morgan Chase, AIG, Bear Stearns, và Lehman Brothers. Làn sóng đầu cơ này không chỉ tạo ra những con sóng thần ở thị trường Hoa Kỳ, mà trên cả thế giới. Từ sau sự đỗ vỡ của bong bóng công nghệ năm 2000, số tiền chảy vào các quỹ đầu cơ hàng hóa tăng gấp 50 lần. Năm 2003, tổng giá trị đầu cơ vào các thị trường hàng hóa tương lai ở Hoa Kỳ chỉ đạt 13 tỷ. Nhưng khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến TTCK sụp đổ năm 2008 và các loại ngoại tệ chính như USD, bảng Anh, EUR... đều bị mất niềm tin, hàng hóa (trong đó có lương thực) trở thành một nơi lý tưởng cho các quỹ mạo hiểm, quỹ hưu trí và các quỹ đầu tư quốc gia.

Tăng 1.900%

Chỉ trong 55 ngày đầu tiên của năm 2008, giới đầu cơ đổ 55 tỷ USD vào các thị trường hàng hóa, và đến tháng 7 cùng năm, có 318 tỷ USD đổ vào các thị trường này. Diễn biến này dĩ nhiên đẩy giá lương thực toàn cầu lên chót vót, và lạm phát lương thực vẫn ở mức cao kể từ đó đến nay. Lúa mì đỏ cứng mùa xuân thường được bán với giá từ 4-6 USD/dạ, nhưng cùng làn sóng đầu cơ, đã tăng chạm đỉnh 25 USD/dạ. Từ năm 2005-2008, giá lương thực thế giới tăng 80%. Nghiên cứu của Viện Chính sách Trái đất (EPI) cho biết giá lương thực càng tăng, dòng tiền đầu cơ vào các mặt hàng này càng nhiều. Từ năm 2003-2008, dòng tiền đầu cơ của các quỹ mạo hiểm và ngân hàng đổ vào thị trường lương thực phái sinh tăng tới 1.900%!
Trả lời trước Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề này, Mike Masters (thuộc Masters Capital Management) giải thích: “Chúng tôi bắt đầu ý thức về hiện tượng đầu cơ này từ năm 2006. Trong 2 năm 2007 và 2008, nó phát triển mạnh. Từ nay, phần lớn các vụ mua bán nông sản đều có tính đầu cơ – tôi cho là lên đến 70 hay 80%”. Theo ông, thị trường bị các ngân hàng làm méo mó: “Giả dụ ta biết một nơi nào đó trên thế giới bị mất mùa. Bình thường, khi ấy giá gạo chẳng hạn sẽ tăng khoảng 1 USD (cho một thùng 13 lít). Nhưng khi một thị trường có mức đầu cơ lên đến 70 hay 80%, thì giá gạo sẽ tăng 2 hay 3 USD để chi trả các phí tổn phụ. Điều đó làm sự mất ổn định trở thành nghiêm trọng thêm”. Theo nghiên cứu của EPI, nhóm thứ 2 (các nhà đầu cơ) trước đây chỉ bằng 1/5 nhóm thứ nhất (gồm nông dân, chủ kho và các nhà phân phối lương thực) trong thị trường lương thực phái sinh. Nhưng nay, tỷ lệ này đã đảo chiều ngoạn mục thành 4/1.
Ngày nay, các nhà ngân hàng và nhà giao dịch chiếm vị trí cao nhất trong “chuỗi thức ăn”, ăn hết lợi nhuận của mọi người và mọi thứ bên dưới. Gần dưới đáy chuỗi này là nông dân. Đối với họ, giá lương thực cao hẳn nhiên là điều đáng mừng. Nhưng giới đầu cơ hàng hóa đã khiến mọi thứ trở nên đắt đỏ hơn đối với nông dân, từ hạt giống đến phân bón và dầu diesel (để chạy máy nông nghiệp). Dưới đáy chuỗi này là người tiêu dùng. Đối với người Hoa Kỳ và công dân các nước phát triển, nơi chỉ dùng 8-12% thu nhập cho thức ăn, chuyện tăng giá lương thực chẳng ảnh hưởng mấy. Nhưng với hơn 2 tỷ người ở các nước đang phát triển, nơi người dân chi hơn 50% thu nhập cho thức ăn, hậu quả từ hoạt động đầu cơ là rất lớn. Năm 2008, thế giới có thêm 250 triệu người rơi vào cảnh thiếu ăn do giá lương thực tăng cao.

No comments:

Post a Comment