Kỳ 3: Mâu thuẫn nước
Vì là thứ giá trị nhất hành tinh, nước là đối tượng tranh giành của nhiều
nước, nhiều nhóm người và nhiều cá nhân, tạo ra những xung đột cả ở cấp quốc
gia và quốc tế. Từ “cạnh tranh” (rivalry) trong tiếng Anh bắt nguồn từ từ
“rivalis” của tiếng Latin, nghĩa là “người dùng chung một dòng sông với người
khác”.
Trong thực tế, nước của nhiều con sông lớn trên thế giới như sông Mê Công,
sông Indus, sông Nile, sông Amazon... được chia sẻ giữa 2 hoặc nhiều quốc gia.
Lưu vực những con “sông chung” (sông chảy qua từ 2 nước trở lên) chiếm tới 45%
bề mặt đất liền của trái đất, và cung cấp nước cho 40% dân số toàn cầu, đồng thời
chiếm 60% lượng nước sông toàn cầu. Chính những con “sông chung” như vậy có thể
tạo ra mâu thuẫn giữa các nước cùng chia sẻ chúng. Chẳng hạn, trước đây Iraq
thường phàn nàn lên LHQ rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã xây đập chặn mất nguồn nước của những
con sông chảy vào Iraq như sông Tigris và Euphrates. Hay ở lưu vực sông Mê Công
- con “sông chung” của các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và
Trung Quốc – các nước này vẫn chưa đạt được một giải pháp ổn thỏa về sử dụng
dòng sông chung. Nhiều nước lên án Trung Quốc xây nhiều đập thủy điện trên thượng
lưu con sông làm mực nước sông ngày càng cạn kiệt.
Chiến tranh nước?
Khi những bất đồng về chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia không thể giải
quyết bằng biện pháp hòa bình, rất có thể sẽ xảy ra chiến tranh. Trong lịch sử,
cuộc chiến dai dẳng giữa người Israel và người Palestine được cho là một phần
do tranh giành nguồn nước. Bờ Tây nằm trên một khu vực ngậm nước lớn. Thêm vào
đó, Cao nguyên Golan mà Israel lấy đi từ Syria trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967
là nơi bắt nguồn của sống Jordan và các nguồn nước đổ vào Biển Galilee. Ở một
khu vực khô hạn như Trung Đông, kiểm soát nguồn nước mang tính sống còn đối với
cả một dân tộc. Trận đánh Beersheba nổi tiếng trong chiến tranh thế giới thứ nhất
giữa liên quân Anh- Australia-New Zealand với liên minh giữa 2 Đế chế Ottoman và
Đức là trận đánh tranh giành quyền kiểm soát các nguồn nước ở Thổ Nhĩ Kỳ và Birussebi.
Trong tranh chấp các dòng sông chung, nếu các nước ở thượng lưu mạnh hơn, họ
sẽ gia tăng việc kiểm soát nguồn nước bằng cách xây đập thủy điện hoặc thủy lợi,
và các nước ở dưới hạ lưu chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt. Nhưng nếu các nước ở hạ
lưu mạnh hơn, các nước các nước trên thượng lưu có thể bị chiến tranh nếu quản
lý nguồn nước không tốt. Ai Cập, một nước vùng hạ lưu hùng mạnh, đã nhiều lần dọa
sẽ tiến hành chiến tranh để giải quyết mâu thuẫn xung quanh dòng sông Nile. Chỉ
nhờ cả 2 nước vùng thượng lưu là Sudan và Ethiopia đều bị nhấn chìm trong nội
chiến và quá nghèo để có thể xây đập tích trữ nguồn nước nên chiến tranh mới
chưa xảy ra. Ở lưu vực sống Euphrates, Thổ Nhĩ Kỳ có quân đội hùng mạnh hơn
Syria, nhưng điều đó cũng không ngăn được người Syria nhiều lần đe dọa bạo lực.
Tuy nhiên, lịch sử cũng chứng minh rằng tranh chấp nguồn nước giữa các quốc
gia hiếm khi dẫn đến chiến tranh. “Nước suy cho cùng là một nguyên nhân của hợp
tác hơn là chiến tranh. Vì nó quá thiết yếu đến nổi bạn không thể chiếm đoạt nó
bằng chiến tranh”, Daniel Zimmer – giám đốc của Hội đồng Nước thế giới (WWC) –
nói. Ông Zimmer đơn cử thỏa thuận ký kết hồi tháng 3-2008 giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq
và Syria về việc cùng thiết lập một Viện Nước để nghiên cứu và theo dõi các nguồn
nước chung. Hay như các nước dọc theo sông Mê Công đã thành lập Ủy ban sông Mê
Công (MRC) với mục đích tương tự.
Xung đột công tư
Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và nhiều định chế quốc tế
khác từng cổ súy việc tư hữu hóa hệ thống nước ở các nước nghèo, bằng việc thúc
ép hoặc trợ giá cho các công ty nước toàn cầu, với hy vọng sẽ làm tăng tính hiệu
quả của các dịch vụ nước. Tuy nhiên, việc tư hữu hóa hệ thống nước đã vấp phải
nhiều chỉ trích và cũng nhận được nhiều bài học cay đắng. Nổi bật trong số đó
là trường hợp tư nhân hóa hệ thống nước ở Bolivia. Năm 1999, một consortium dẫn
đầu bởi công ty Hoa Kỳ Bechtel ký 1 hợp đồng 40 năm để tăng nguồn cung và dịch
vụ nước cho Cochabamba, Bolivia. Nhưng 6 tháng sau, những người biểu tình đã
đánh đuổi công ty ra khỏi đất nước vì liên minh trên đã liên tục tăng giá nước
khiến người dân không thể chịu nổi. Sau vụ việc này, giới chuyên môn cho rằng
không nên để tài nguyên nước lọt vào tay các công ty tư nhân, vì suy cho cùng
nước là một tài sản công cộng. Việc sản xuất nước uống đóng chai cũng bị phê
phán mạnh mẽ. Diễn biến tương tự cũng xảy ra ở Atlanta, Georgia (Hoa Kỳ). Năm
1999, thành phố này quyết định tư nhân hóa dịch vụ nước vì thấy hệ thống nước
do nhà nước quản lý xuống cấp nghiêm trọng. Tuy nhiên, đến năm 2003, chính quyền
thành phố buộc phải phá vỡ hợp đồng 500 triệu USD với đại gia Suez của Pháp vì
gặp tình trạng tương tự người Bolivia.
Trong thực tế, xung đột về nước trong phạm vi một nước
dễ biến thành bạo lực hơn ở tầm xuyên quốc gia. Tại Dafur, quyền tiếp cận nước
sạch và đất trồng là một nhân tố chính trong xung đột giữa những người nông dân
da đen và dân di cư Arab. Hạn hán và hoang mạc hóa ở Bắc Darfur đã khiến những
người Arab chuyển đến Nam Darfur, nơi họ xung đột với nông dân da đên. Tháng
12-2009, hàng trăm người dân ở Mumbai đã nổi dậy để phản đối việc cúp nước. Những
cuộc đụng độ nẩy lửa giữa họ và cảnh sát đã làm ít nhất 1 người bị giết và hàng
chục người bị thương.
No comments:
Post a Comment